slideshow 1 slideshow 2 slideshow 3 slideshow 4

You are here

ĐHY Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận

Body: 

Image 

Chúa "dắt con trên đường, để con ra đi, và thu được nhiều hoa trái." Đường ấy là "đường hy vọng", vì  chan chứa hy vọng, vì "đẹp như hy vọng." Sao không hy vọng khi con đi với Chúa Giêsu, khi con về cùng Đức Chúa Cha?

 

 

 

Bí quyết của đường hy vọng gồm ba điểm:   A. Ra đi: "Bỏ mình" - B. Bổn phận: Vác thánh giá mình mỗi ngày.  C. Bền chí: "Theo Thầy" ...
  

Đức Hồng Y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận sinh tại Phú Cam, thuộc Tổng Giáo phận Huế, Tỉnh Thừa Thiên, Việt Nam, ngày 17 tháng 4 năm 1928. Gia đình Ngài có 8 anh chị em: 3 trai và 5 gái, mà Ngài là con cả. Ông Bà Cụ Cố thân sinh của Ngài là Cụ Nguyễn Văn Ấm, qua đời ngày 1 tháng 7 năm 1993 tại Sydney, Australia, và Cụ Bà Elisabeth Ngô Đình Thị Hiệp. Bà là con gái của Cụ Ngô Đình Khả. Bà Cụ Cố hiện đang sống tại Sydney, Australia với người con gái Anna Hàm Tiếu và thọ trên 100 tuổi.

Đức Hồng Y Thuận thuộc một gia đình có truyền thống công giáo lâu đời và tổ tiên từng bị bách hại vì đạo từ năm 1698.

Từ còn nhỏ, Cậu Thuận được giáo dục trong một gia đình đạo đức và do bà mẹ Elisabeth gương mẫu thánh thiện. Bà lo giáo dục cậu khi còn nhỏ, mỗi tối bà dạy con những truyện Kinh thánh, kể cho cậu nghe lịch sử các Thánh Tử đạo Việt Nam, nhất là về tổ tiên của dòng tộc, giới thiệu cho cậu gương Thánh Nữ Têrêsa Hài đồng Giêsu; dạy con biết yêu thương và tha thứ cho mọi người; bà cũng dạy cậu hết lòng yêu mến Tổ Quốc Việt Nam.

Khi lớn lên Cậu Thuận nhập Tiểu chủng viện Anh Ninh và sau đó theo học triết học và thần học tại Đại chủng viện Kim Long, Huế. Thầy Thuận lãnh chức linh mục ngày 11 tháng 6 năm 1953. Sau khi chịu chức, tân linh mục Thuận được cử đi làm Phó xứ Họ Thánh Phanxicô Xaviê, Huế, lúc đó Cha sở là Cha Darbon, quen gọi là Cố Triết. Năm 1956 Ngài được gửi sang theo học Phân khoa Giáo luật thuộc Đại học Giáo hồng Urbaniana, tại Rôma của Bộ Truyền giáo từ năm 1956-1959, và đã đậu tiến sĩ Giáo luật năm 1959, với kết quả "summa cum laude" với đề tài “Tuyên úy quân đội trên thế giới”. Khi học tại Rôma, Cha Thuận đã được cùng Đức Cha Phêrô Maria Ngô Đình Thục (Giám mục Vĩnh Long) là Cậu ruột vào triều yết Đức Thánh Cha Piô XII.

Khi về nước, Cha Thuận được cử làm giáo sư, rồi năm 1962 được cử làm giám đốc Tiểu chủng viện Hoan Thiện từ năm 1959 đến năm 1967 và làm Tổng Đại Diện Tổng Giáo phận Huế từ năm 1964-1967.

Ngày 13 tháng 4 năm 1967, Cha Thuận được Đức Thánh Cha Phaolô VI bổ nhiệm làm giám mục Việt Nam tiên khởi Giáo phận Nha Trang thay thế Đức Cha Paul Raymond Piquet Lợi M.E.P. (Đức Cha Lợi, làm giám mục Nha Trang từ 1957-1967). Lễ truyền chức Giám Mục được cử hành vào ngày 24 tháng 6 năm 1967, lễ Thánh Gioan Tẩy Giả, tại Huế, do Đức Cha Angelo Palmas, Khâm sứ Tòa Thánh tại Việt Nam, Lào va Campuchia, chủ phong. Khẩu hiệu của Đức Tân giám mục là “Vui Mừng và Hy vọng” (Gaudium et Spes), tên của Hiến chế mục vụ của Công đồng chung Vaticanô II.

Ngày 10 tháng 7 năm 1967, Đức Cha Thuận đã về nhận Giáo phận Nha Trang. Trong 8 năm làm giám mục, Đức Cha đã làm hết sức để phát triển Giáo phận Nha Trang, trước khi thời gian khốn khĩ xẩy đến (xc. Năm chiếc bánh và hai con cá, tr. 26).

Trọng tâm hoạt động của Ngài là huấn luyện nhân sự, gia tăng đại chủng sinh từ 42 đến 147; số tiểu chủng sinh từ 200 đến 500 trong 4 chủng viện; tổ chức các khóa tu nghiệp cho các linh mục trong 6 giáo phận nằm trong 6 tỉnh Miền Trung Việt Nam; phát triển và huấn luyện các phong trào thanh niên, giáo dân, các hội đoàn giáo xứ, mục vụ, qua các khóa như Phong trào Công lý và Hòa bình, CursillosFocolare, Hướng đạo; thành lập Cộng đoàn La vang, Tu hội Hy Vọng.

Để hướng dẫn cộng đồn giáo phận Nha Trang, Đức Cha Thuận đã viết 6 thư luân lưu:

  1. Tỉnh thức và cầu nguyện (1968)
  2. Vững mạnh trong Đức tin, Tiến lên trong An bình (1969)
  3. Cơng lý và Hòa bình (1970)
  4. Sứ mạng Chúa Kitô là sứ mạng của chúng ta (1971)
  5. Kỷ niệm 300 năm (1971)
  6. Năm Thánh Canh tân và Hòa giải (1973)

Trong khuôn khổ Hội Đồng Giám Mục Miền Nam Việt Nam, Ngài là Chủ Tịch Ủy Ban Công Lý và Hòa Bình, rồi Chủ tịch Ủy Ban Truyền thông xã hội; Chủ tịch Ủy Ban phát Triển Việt Nam; đảm trách hoạt động của cớ quan lo cho các người di tản từ các vùng chiến tranh về vùng an tồn. Ngài là một trong những Giám mục thành lập Đài Phát thánh công giáo “Chân Lý Á Châu” (Veritas Asia, Manila). Ngài đã nhiều lần tham dự các khóa họp của Liên Hội Đồng Giám mục Á Châu (F.A.B.C.). Ngài được chọn làm cố vấn Hội Đồng Tịa Thánh về Giáo dân từ năm 1971-1975. Và trong những lần đi họp Hội Đồng này, Ngài đã có dịp gặp Đức Giáo hoàng đương kim Gioan Phaolô II, lúc đó là Tổng Giám mục của Giáo phận Cracovia (Ba Lan), để học hỏi các kinh nghiệm mục vụ trong những giai đoạn khó khăn dưới chế độ cộng sản ở Ba Lan. Ngài cũng được bổ nhiệm làm cố vấn, rồi thành viên của Bộ Truyền giảng Tin mừng cho các Dân tộc; thành viên của Bộ Phụng Tự và Kỷ luật Bí tích.

Ngày 24 tháng 4 năm 1975, Đức Thánh Cha Phaolô VI đã bổ nhiệm Ngài làm Giám mục Phó với quyền kế vị Tổng Giáo phận Sàigon, và thăng chức Tổng Giám mục hiệu tịa Vadesi. Nhưng nhà cầm quyền cộng sản thời đó không chấp nhận cho Ngài về Sàigon và đã dùng bạo lực đưa Ngài ra lại Nha Trang.

Ngày 15 tháng 8 năm 1975, Lễ Đức Mẹ Linh hồn và xác lên trời, Ngài đã bị bắt giải ra Nha Trang, giam ở Cây Vông, sau đó là Nhà tù Nha Trang, Phú Khánh; nhà tù Thủ Đức; rồi được đưa ra Bắc Việt. Ngài sống trong lao tù 13 năm, trong đó 9 năm biệt giam, trong các trại giam Vĩnh quảng (núi Vĩnh phú), nhà giam của Công an thành phố Hà Nội, rồi bị quản thúc tại Giang xá. Trong năm tù thứ nhất 1976, Ngài đã viết cuốn “Đường hy vọng”. Cuốn sách này được Ngài coi là di chúc tinh thần của Ngài gửi tới mọi người công giáo Việt Nam trong và ngoài nước. Sau khi nghe những bài giảng trong đó có những chứng tá về những năm tù ngục của Đức Hồng Y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận trong tuần tĩnh tâm Mùa Chay của Giáo triều Rôma năm 2000, Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đã có cảm nghĩ như sau trong thư gửi cho Đức Hồng Y, ngày 18-3-2000: “Tôi đã ước mong rằng trong năm Đại tồn xá này, có một chỗ đặc biệt được dành cho chứng tá của những người ‘đã chịu đau khổ vì đức tin, đã trả bằng máu sự gắn bĩ của họ đối với Chúa Kitô và Giáo hội, hoặc chịu đựng những năm thật dài cảnh tù ngục và thiếu thốn đủ loại’ …” (Tơng sắc Mầu nhiệm nhập thể số 13) (Chứng nhân hy vọng, tr. 8).

Ngày 21 tháng 11 năm 1988, lễ Đức Mẹ dâng mình trong Đền thánh, Ngài được thả tự do và được đưa về cư trú tại Tòa Tổng Giám Mục Hà Nội, nhưng không được phép thi hành công việc mục vụ. Sau đó Ngài được phép đi thăm Ông Bà Cố tại Sydney, Australia, đi Rôma triều yết Đức Thánh Cha, rồi trở về Hà Nội. Năm 1991 Ngài được phép ra nước ngoài và sau đó không được phép trở về Việt Nam. Từ đây Ngài sống cuộc đời lưu vong, nhưng Ngài luôn hiện diện với Giáo hội tại Việt Nam và quê hương Việt Nam. Ngài luôn lo lắng giúp đỡ các công tác xã hội, như các trại phong cùi, các công tác bác ái từ thiện, các công trình nghiên cứu và phổ biến văn hóa Việt Nam và Văn hóa Công giáo Việt Nam, việc trùng tu và xây cất các thánh đường, việc huấn luyện các chủng sinh và giáo dân, theo khả năng Ngài cos thể. Trước mọi đau khổ và bách hại bản thân và Giáo hội, Ngài luôn sống và rao giảng sự tha thứ và hòa giải.

Trong thời gian ở ngoại quốc, Ngài đã được mời đi giảng và thuyết trình ở nhiều nơi và cho nhiều giới khác nhau, như tại nhà thờ chính tòa Paris trong một Mùa Chay, hoặc nói truyện tại các Đại học công giáo trên thế giới; tại Mễ tây cơ vào tháng 5 năm 1998 cho hơn 50,000 giới trẻ. Ngày 11 tháng 5 năm 1996, Ngài lãnh bằng tiến sĩ danh dự tại Đại học Dòng Tên ở New Orleans, LA, Hoa Kỳ. Bộ Truyền giáo cũng ủy thác cho Ngài thi hành các cuộc thăm viếng và kiểm tra các chủng viện tại một số nước ở Phi Châu.

Ngài cũng nhận được những huy chương để đề cao cuộc sống chứng tá, hoạt động kiến tạo hòa bình của Ngài. Ngày 9 tháng 6 năm 1999, Chính Phủ Pháp đã trao tặng Ngài huy chương “Commandeur de l’Ordre National du Mérite” (tại Tịa Đại sứ Pháp bên cạnh Tịa thánh). Ngày 12 tháng 12 năm 2000, tại Tịa Thị chính Rôma, Hội “Cùng nhau xây dựng hòa bình” đã trao tặng huy chương cho Ngài. Tại Tôrontô, ngày 20 tháng 10 năm 2001, Ngài lãnh giải hòa bình do tổ chức SERMIG – hiệp hội truyền giáo của giới trẻ. Sau cùng, ngày 9 tháng 12 năm 2001, Trung tâm Nghiên cứu G. Donati đã trao tặng Ngài giải thưởng hòa bình năm 2001.

Ngày 24 tháng 11 năm 1994 Đức Thánh Cha đã bổ nhiệm Ngài làm Phó Chủ tịch Hội Đồng Tòa Thánh “Cơng lý và Hòa Bình” và sau đó vào ngày 24 tháng 6 năm 1998, Ngài được bổ nhiệm làm chủ tịch Hội đồng này, thay thế Đức Hồng Y Roger Etchegaray, nghỉ hưu. Ngài giữ chức vụ Chủ tịch cho tới ngày nay.

Sau thời gian bị cầm tù, Ngài đã bị giải phẫu 7 lần, trong đó có ba lần suýt chết vì nhiễm trùng. Lần giải phẫu áp chót vào ngày 17 tháng 4 năm 2001 tại một bệnh viện ở Boston, Hoa Kỳ và cuộc giải phẫu cuối cùng vào ngày 8 tháng 5 năm 2002 tại Trung tâm nghiên cứu về ung thư, Milano (Bắc Italia). Ngài trở bệnh nặng từ đầu tháng 6 năm 2002 và được đưa vào cấp cứu tại Bệnh Viện Agostino Gemelli thuộc Đại học Công giáo Thánh Tâm, Rôma. Sau đó được đưa về Bệnh viện Piô XI để tiếp tục điều trị.

Đặc biệt Mùa Chay năm 2000, Ngài được Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II mời giảng cấm phòng Mùa Chay cho các viên chức tại Giáo triều Rôma, bắt đầu thiên niên kỷ thứ III. Đức Thánh Cha noí với Đức Hồng Y Thuận: “Năm đầu tiên của Ngàn Năm thứ ba, một người Việt Nam sẽ giảng tuần Tĩnh tâm cho Giáo Triều Rôma”. Rồi Đức Thánh Cha nói tiếp: “Hãy kể lại cho chúng tôi những chứng tá của Đức Cha”. Trong dịp này, sau khi được Đức Thánh Cha tiếp riêng và tặng một chén lễ, Đức Hồng Y Thuận đã nói như sau: “Cách đây 24 năm, khi cử hành Thánh lễ với 3 giọt rượu và một giọt nước trong lòng bàn tay, tôi khơng bao giờ tưởng tượng, ngày hôm nay Đức Thánh Cha tặng tôi một chén lễ mạ vàng… Thiên Chúa thật cao cả và Tình thương của Ngài cũng cao cả” (Chứng nhân hy vọng, tr. 12.13).

Ngày 21 tháng 2 năm 2001 trong cuộc họp mật viên các Hồng Y, Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đã trao mũ Hồng Y cho Ngài và đặt Ngài làm Hồng Y Phố tế, hiệu tòa Nhà thờ Santa Maria della Scala (Đức Mẹ tại các bậc thang). Nhà thờ này do các Cha dòng Đức Mẹ Núi Carmelo coi sóc, nằm tại vùng Trastevere, Rôma.

Ngài qua đời lúc 18 giờ ngày 16 tháng 9 năm 2002 tại Rôma.

 Rôma, ngày 17-09-2002  


Copyright © 2011 Cursillo Online. All rights reserved.