slideshow 1 slideshow 2 slideshow 3 slideshow 4

You are here

Sách Sử Biên Niên Quyển 1 [1] (1 Sb 1,1–14,17)

11 Ông A-đam, ông Sết, ông E-nốt. 2 Ông Kê-nan, ông Ma-ha-lan-ên, ông Gie-rét. 3 Ông Kha-nốc, ông Mơ-thu-se-lác, ông La-méc. 4 Ông Nô-ê, ông Sêm, ông Kham, ông Gia-phét.
 
5 Các con của ông Gia-phét là Gô-me, Ma-gốc, Mê-đi, Gia-van, Tu-van, Me-séc, Ti-rát.
 
6 Các con của ông Gô-me là Át-cơ-nát, Ri-phát, Tô-gác-ma, 7 Các con của ông Gia-van là Ê-li-sa, Tác-sít, người Kít-tim, người Rô-đa-nim.
 
8 Các con của ông Kham là Cút, Mít-ra-gim, Pút, Ca-na-an.
 
9 Các con của ông Cút là Xơ-va, Kha-vi-la, Xáp-ta, Ra-ơ-ma, Xáp-tơ-kha. Các con của ông Ra-ơ-ma là Sơ-va, Đơ-đan. 10Ông Cút sinh ra ông Nim-rốt là người anh hùng đầu tiên trên mặt đất.
 
11Ông Mít-ra-gim sinh ra dân Lút, dân A-nam, dân Lơ-háp, dân Náp-tu-khim, 12dân Pát-rốt, dân Cát-lúc và dân Cáp-to, từ dân này mới có dân Phi-li-tinh. 13Ông Ca-na-an sinh ra ông Xi-đôn là con đầu lòng, rồi sinh ông Khết, 14và các người Giơ-vút, người E-mô-ri, người Ghia-ga-si, 15người Khi-vi, người Ác-ki, người Xi-ni, 16người Ác-vát, người Xơ-ma-ri, người Kha-mát.
 
17Các con của ông Sêm là Ê-lam, Át-sua, Ác-pắc-sát, Lút, A-ram, Út, Khun, Ghe-the, Me-séc.
 
18Ác-pắc-sát sinh Se-lác. Se-lác sinh Ê-ve. 19Ê-ve được hai người con trai : người thứ nhất tên là Pe-lét, vì trong thời gian ông sống, đất được phân chia ; người em tên là Gióc-tan.
 
20Gióc-tan sinh An-mô-đát, Se-lép, Kha-xa-ma-vét, Gie-rác, 21Ha-đô-ram, U-dan, Đích-la, 22Ê-van, A-vi-ma-ên, Sơ-va, 23Ô-phia, Kha-vi-la, Giô-váp. Tất cả những người đó là con của ông Gióc-tan.
 
24A-pắc-sát, Se-lác, 25Ê-ve, Pe-lét, Rơ-u, 26Xơ-rúc, Na-kho, Te-rác, 27Áp-ram, tức là Áp-ra-ham. 28Các con của ông Áp-ra-ham là I-xa-ác và Ít-ma-ên. Đây là hậu duệ của các ngài.
 
29Con đầu lòng của ông Ít-ma-ên là Nơ-va-giốt, rồi đến Kê-đa, Át-bơ-ên, Míp-xam, 30Mít-ma, Đu-ma, Ma-xa, Kha-đát, Tê-ma, 31Giơ-tua, Na-phít, Kết-ma. Đấy là các con của ông Ít-ma-ên. 32Con của bà Cơ-tu-ra, vợ lẽ của ông Áp-ra-ham : bà sinh Dim-ran, Gióc-san, Mơ-đan, Ma-đi-an, Gít-bắc, Su-ác. Các con của ông Gióc-san là Sơ-va và Đơ-đan. 33Các con của ông Ma-đi-an là Ê-pha, Ê-phe, Kha-nốc, A-vi-đa, En-đa-a. Tất cả những người ấy là con cháu bà Cơ-tu-ra.
 
34Ông Áp-ra-ham sinh I-xa-ác. Các con của ông I-xa-ác là Ê-xau và Ít-ra-en.
 
35Các con của ông Ê-xau là Ê-li-phát, Rơ-u-ên, Giơ-út, Gia-lam, Cô-rắc. 36Các con của ông Ê-li-phát là Tê-man, Ô-ma, Xơ-phi, Ga-ơ-tam, Cơ-nát, Tim-na, A-ma-lếch. 37Các con của ông Rơ-u-ên là Na-khắt, De-rác, Sam-ma, Mít-da.
 
38Các con của ông Xê-ia là Lô-tan, Sô-van, Xíp-ôn, An-na, Đi-sôn, Ê-xe, Đi-san. 39Các con của ông Lô-tan là Khô-ri, Hô-mam. Em gái của ông Lô-tan là Tim-na. 40Các con của ông Sô-van là An-gian, Ma-na-khát, Ê-van, Sơ-phi, Ô-nam. Các con của ông Xíp-ôn là Ai-gia và A-na. 41Con của ông A-na là Đi-sôn. Các con của ông Đi-sôn là Kham-ran, Ét-ban, Gít-ran, Cơ-ran. 42Các con của ông Ê-xe là Bin-han, Da-a-van, Gia-a-can. Các con của ông Đi-sôn là Út và A-ran.
 
43Đây là các vua cai trị xứ Ê-đôm trước khi con cái Ít-ra-en có vua : vua Be-la con vua Bơ-o, và thành của vua tên là Đin-ha-va. 44Vua Bê-la qua đời, ông Giô-váp, con ông De-rác, người Bót-ra, lên kế vị. 45Vua Giô-váp qua đời, ông Khu-sam, người gốc xứ Tê-man, lên kế vị. 46Vua Khu-sam qua đời, ông Ha-đát, con ông Bơ-đát, lên kế vị. Vua này đánh bại người Ma-đi-an trong cánh đồng Mô-áp, thành của vua tên là A-vít. 47Vua Ha-đát qua đời, ông Xam-la, người thành Mát-rê-ca, lên kế vị. 48Vua Xam-la qua đời, ông Sa-un, người thành Rơ-khô-vốt Ha Na-ha lên kế vị. 49Vua Sa-un qua đời, ông Ba-an Kha-nan, con ông Ác-bo lên kế vị. 50Vua Ba-an Kha-nan qua đời, ông Ha-đát lên kế vị ; thành của vua tên là Pa-i ; vợ vua tên là Mơ-hê-táp-ên, con gái ông Ma-rết, người thành Mê Da-háp.
 
51Vua Ha-đát qua đời thì có các tộc trưởng Ê-đôm : tộc trưởng Tim-na, tộc trưởng An-va, tộc trưởng Giơ-thết, 52tộc trưởng O-ho-li-va-ma, tộc trưởng Ê-la, tộc trưởng Pi-nôn, 53tộc trưởng Cơ-nát, tộc trưởng Tê-man, tộc trưởng Míp-xa, 54tộc trưởng Mác-đi-ên, tộc trưởng I-ram. Đó là các tộc trưởng Ê-đôm.
 
 
21 Đây là các con ông Ít-ra-en : Rưu-vên, Si-mê-ôn, Lê-vi, Giu-đa, Ít-xa-kha, Dơ-vu-lun, 2 Đan, Giu-se, Ben-gia-min, Náp-ta-li, Gát, A-se.
 
3 Các con ông Giu-đa : E, Ô-nan, Sê-la ; cả ba đều là con ông, do bà Bát Su-a người Ca-na-an sinh ra. Ông E, con đầu lòng ông Giu-đa, làm mất lòng ĐỨC CHÚA, nên Người khiến ông chết. 4 Bà Ta-ma, con dâu ông Giu-đa, sinh cho ông này Pe-rét và De-rác. Ông Giu-đa có tất cả năm người con.
 
5 Các con của ông Pe-rét là Khét-rôn và Kha-mun.
 
6 Các con của ông De-rác là : Dim-ri, Ê-than, Hê-man, Can-côn, Đa-ra, tất cả là năm người.
 
7 Con của ông Các-mi là A-kha, kẻ gây tai hoạ cho Ít-ra-en, vì đã vi phạm luật biệt hiến.
 
8 Con của ông Ê-than là A-dác-gia. Nguồn gốc vua Đa-vít
 
9 Các con của ông Khét-rôn, những người đã được sinh ra cho ông : Giơ-rác-mơ-ên, Ram, Cơ-lu-vai.
 
10Ram sinh Am-mi-na-đáp, Am-mi-na-đáp sinh Nác-sôn, thủ lãnh con cái ông Giu-đa. 11Nác-sôn sinh Xan-ma, Xan-ma sinh Bô-át. 12Bô-át sinh Ô-vết, Ô-vết sinh Gie-sê. 13Gie-sê sinh con đầu lòng là Ê-li-áp, con thứ là A-vi-na-đáp, và Sim-a là thứ ba, 14Nơ-than-ên thứ tư, Rát-đai thứ năm, 15Ô-xem thứ sáu, Đa-vít thứ bảy. 16Chị em gái của họ là Xơ-ru-gia và A-vi-ga-gin. Các con của bà Xơ-ru-gia có ba người là Áp-sai, Giô-áp, A-xa-hên. 17Bà A-vi-ga-gin sinh A-ma-xa, cha của A-ma-xa là Gie-the, người Ít-ma-ên.
 
18Ông Ca-lếp, con ông Khét-rôn, cùng vợ là bà A-du-va sinh ra ông Giơ-ri-ốt. Đây là các con của bà : Giê-se, Sô-váp, Ác-đôn. 19Bà A-du-va chết, ông Ca-lếp cưới bà Ép-rát, và bà này sinh ra cho ông người con tên là Khua. 20Khua sinh U-ri, U-ri sinh Bơ-xan-ên.
 
21Sau đó ông Khét-rôn đến với con gái ông Ma-khia, cha ông Ga-la-át. Khi cưới bà, ông đã sáu mươi tuổi, và bà sinh ra Xơ-gúp cho ông. 22Xơ-gúp sinh Gia-ia ; ông này có tới hai mươi ba thành trong xứ Ga-la-át. 23Nhưng Gơ-sua và A-ram chiếm mất của họ các thôn làng thuộc Gia-ia, Cơ-nát và các nơi phụ cận là sáu mươi thành. Tất cả những người đó đều là con cháu ông Ma-khia, cha ông Ga-la-át.
 
24Sau khi ông Khét-rôn chết, thì ông Ca-lếp lại kết hôn với bà Ép-ra-tha, vợ goá của ông Khét-rôn cha mình. Bà đã sinh ra cho ông người con tên là Át-khua, cha của ông Tơ-cô-a.
 
25Các con của ông Giơ-rác-mơ-ên, con đầu lòng của ông Khét-rôn, là : Ram, con đầu lòng, rồi Bu-na, Ô-ren, Ô-xem, A-khi-gia. 26Ông Giơ-rác-mơ-ên có một người vợ khác tên là A-ta-ra, đó là mẹ của ông Ô-nam.
 
27Các con của ông Ram, con đầu lòng của ông Giơ-rác-mơ-ên, là : Ma-át, Gia-min, Ê-ke.
 
28Các con của ông Ô-nam là : Sam-mai và Gia-đa. Các con của ông Sam-mai là Na-đáp và A-vi-sua. 29Tên người vợ của ông A-vi-sua là A-vi-kha-gin. Bà này sinh ra Ác-ban và Mô-lít cho ông. 30Các con của ông Na-đáp là Xe-lét và Áp-pa-gim. Ông Xe-lét chết mà không có con. 31Con của ông Áp-pa-gim là Gít-i ; con của ông Gít-i là Sê-san ; con của ông Sê-san là Ác-lai. 32Các con của ông Gia-đa, em của ông Sam-mai, là Gie-the và Giô-na-than. Ông Gie-the chết mà không có con. 33Các con của ông Giô-na-than là Pe-lét và Da-da. Đó là con cháu của ông Giơ-rác-mơ-ên.
 
34Ông Sê-san không có con trai, chỉ có con gái. Ông có người đầy tớ Ai-cập tên là Giác-kha. 35Ông Sê-san gả con gái cho anh đầy tớ làm vợ. Bà này sinh ra Át-tai cho ông. 36Ông Át-tai sinh Na-than, Na-than sinh Da-vát, 37Da-vát sinh Ép-lan, Ép-lan sinh Ô-vết, 38Ô-vết sinh Giê-hu, Giê-hu sinh A-dác-gia, 39A-dác-gia sinh Khe-lét, Khe-lét sinh En-a-xa, 40En-a-xa sinh Xít-mai, Xít-mai sinh Sa-lum, 41Sa-lum sinh Giơ-cam-gia, Giơ-cam-gia sinh Ê-li-sa-ma.
 
42Các con của ông Ca-lếp, em ông Giơ-rác-mơ-ên, là Mê-sa, con đầu lòng (ông này là cha của ông Díp) và Ma-rê-sa, cha ông Khép-rôn. 43Các con của ông Khép-rôn là Cô-rắc, Táp-pu-ác, Re-kem, Se-ma. 44Ông Se-ma sinh Ra-kham, cha của Gióc-cơ-am. Ông Re-kem sinh Sam-mai. 45Con của ông Sam-mai là Ma-ôn, cha của Bết-xua.
 
46Bà Ê-pha, tỳ thiếp của ông Ca-lếp, sinh Kha-ran, Mô-xa, Ga-dết. Ông Kha-ran sinh Ga-dết.
 
47Các con của ông Gia-đai là Re-ghem, Giô-tham, Ghê-san, Pe-lét, Ê-pha, Sa-áp.
 
48Bà Ma-a-kha, tỳ thiếp của ông Ca-lếp sinh Se-ve và Tia-kha-na. 49Bà cũng sinh Sa-áp, cha của Mát-man-na, và Sơ-va, cha của Mác-bê-na và của Ghíp-a.
 
Con gái của ông Ca-lếp là Ác-xa.
 
50Đó là con cháu ông Ca-lếp.Các con của ông Khua, con đầu lòng của bà Ép-ra-tha, là : Sô-van, cha của Kia-giát Giơ-a-rim, 51Xan-ma, cha của Bê-lem, Kha-rép, cha của Bết Ga-đe. 52Ông Sô-van, cha của Kia-giát Giơ-a-rim, có những người con sau đây : ông Ha-rô-e, một nửa dân Ma-na-khát, 53các thị tộc Kia-giát Giơ-a-rim, dân Gít-ri, dân Pút, dân Su-ma, dân Mít-ra. Từ các người ấy đã phát xuất ra các dân Xo-rơ-a và Ét-ta-ôn.
 
54Các con của ông Xan-ma là : ông Bê-lem, dân Nơ-tô-pha, ông Át-rốt Bết Giô-áp, một nửa dân Ma-na-khát nữa, dân Xo-rơ-a. 55Các thị tộc người Xô-phơ-rim cư ngụ tại Gia-bết là : Tia-a, Sim-a, Xu- kha. Đó là những người Kê-ni xuất thân từ Kham-mát, tổ phụ của gia đình Rê-kháp.
 
 
31 Đây là các con của vua Đa-vít, sinh tại Khép-rôn. Con đầu lòng là Am-nôn, do bà A-khi-nô-am người Gít-rơ-en ; người con thứ là Đa-ni-ên, do bà A-vi-ga-gin người Các-men ; 2 người thứ ba là Áp-sa-lôm, con bà Ma-a-kha, ái nữ của Tan-mai vua Gơ-sua ; người thứ tư là A-đô-ni-gia, con bà Khác-ghít ; 3 người thứ năm là Sơ-phát-gia, do bà A-vi-tan ; người thứ sáu là Gít-rơ-am, do bà Éc-la vợ ông. 4 Sáu người này là con ông sinh tại Khép-rôn, nơi ông trị vì bảy năm sáu tháng.
 
Rồi ông trị vì tại Giê-ru-sa-lem được ba mươi ba năm.
 
5 Đây là các con ông đã sinh tại Giê-ru-sa-lem : Sim-a, Sô-váp, Na-than, Sa-lô-môn, bốn người do bà Bát Su-a, con gái của ông Am-mi-ên ; 6 Gíp-kha, Ê-li-sa-ma, Ê-li-pha-lét, 7 Nô-ga, Ne-phéc, Gia-phia, 8 Ê-li-sa-ma, En-gia-đa, Ê-li-phe-lét, chín người tất cả.
 
9 Đó là tất cả các con vua Đa-vít, không kể các con do các tỳ thiếp. Còn Ta-ma là chị em của họ.
 
10Các con của vua Sa-lô-môn là : Rơ-kháp-am, A-vi-gia con ông ; A-xa, con ông ; Giơ-hô-sa-phát, con ông ; 11Giô-ram con ông ; A-khát-gia-hu con ông ; Giô-át con ông ; 12A-mát-gia-hu con ông ; A-dác-gia con ông ; Giô-than con ông ; 13A-khát con ông ; Khít-ki-gia con ông ; Mơ-na-se con ông ; 14A-môn con ông ; Giô-si-gia-hu con ông. 15Các con của ông Giô-si-gia-hu là : Giô-kha-nan con trưởng, Giơ-hô-gia-kim con thứ, Xít-ki-gia-hu con thứ ba, Sa-lum con thứ tư. 16Các con của ông Giơ-hô-gia-kim là Giơ-khon-gia con ông, Xít-ki-gia-hu con ông.
 
17Các con vua Giơ-khon-gia, người bị đi đày, là San-ti-ên con ông ; 18Man-ki-ram, Pơ-đa-gia, Sen-át-xa, Giơ-cam-gia, Hô-sa-ma, Nơ-đáp-gia. 19Các con ông Pơ-đa-gia là Dơ-rúp-ba-ven và Sim-y. Các con ông Dơ-rúp-ba-ven là Mơ-su-lam, Kha-nan-gia, bà Sơ-lô-mít, em gái các ông. 20Các con ông Mơ-su-lam là : Kha-su-va, Ô-hen, Be-réc-gia, Kha-xát-gia, Giu-sáp Khe-xét : tất cả là năm người. 21Các con ông Kha-nan-gia là : Pơ-lát-gia ; Giơ-sa-gia con ông ; Rơ-pha-gia con ông ; Ác-nan con ông ; Ô-vát-gia con ông ; Sơ-khan-gia con ông. 22Con của ông Sơ-khan-gia là Sơ-ma-gia. Các con ông Sơ-ma-gia là : Khát-tút, Gích-an, Ba-ri-ác, Nơ-ác-gia, Sa-phát : tất cả là sáu người. 23Các con ông Nơ-ác-gia là : En-giô-ê-nai, Khít-ki-gia, Át-ri-cam : tất cả là ba người. 24Các con ông En-giô-ê-nai là : Hô-đai-va-hu, En-gia-síp, Pơ-la-gia, Ác-cúp, Giô-kha-nan, Đơ-la-gia, A-na-ni : tất cả là bảy người.
 
 
41 Các con ông Giu-đa là : Pe-rét, Khét-rôn, Các-mi, Khua, Sô-van.
 
2 Rơ-a-gia, con Sô-van, sinh Gia-khát ; Gia-khát sinh A-khu-mai và La-hát. Đó là các thị tộc người Xo-rơ-a.
 
3 Đây là các con của ông Khua : người cha của Ê-tham, rồi đến Gít-rơ-en, Gít-ma, Gít-bát. Em gái các ông tên là Hát-len-pô-ni.
 
4 Pơ-nu-ên là cha của Gơ-đo. Ê-de là cha của Khu-sa.
 
Đó là các con ông Khua, con đầu lòng của ông Ép-ra-tha, cha của ông Bê-lem.
 
5 Ông Át-khua, cha của Tơ-cô-a, có hai bà vợ là Khen-a và Na-a-ra.
 
6 Bà Na-a-ra sinh ra cho ông : A-khút-dam, Khê-phe, các người Têm-ni và người A-khát-ta-ri. Đó là con cháu bà Na-a-ra.
 
7 Các con của bà Khen-a là : Xe-rét, Giơ-xô-kha, Ét-nan.
 
8 Ông Cốt sinh A-núp, Hát-xô-vê-va và các thị tộc A-khác-khên, con Ha-rum. 9 Ông Gia-bết vẻ vang hơn các anh em mình. Mẹ ông đặt tên cho ông là Gia-bết ; bà nói : "Tôi đã sinh ra nó trong cơn khốn khổ." 10Ông Gia-bết kêu cầu Thiên Chúa Ít-ra-en rằng : "Nếu thật Ngài giáng phúc cho con, thì xin nới rộng bờ cõi của con và xin tay Ngài phù trợ con, làm cho sự dữ lìa xa và cho con thoát cơn khốn khổ." Thiên Chúa đã ban cho ông điều ông xin.
 
11Ông Cơ-lúp, anh em của Su-kha, sinh Mơ-khia là cha của Ét-tôn. 12Ét-tôn sinh Bết Ra-pha, Pa-xê-ác, Tơ-khin-na, cha của Ia Na-khát. Đó là những người thành Rê-kháp.
 
13Các con ông Cơ-nát là : Ót-ni-ên và Xơ-ra-gia. Các con ông Ót-ni-ên là Kha-thát và Mơ-ô-nô-thai. 14Mơ-ô-nô-thai sinh Óp-ra ; Xơ-ra-gia sinh Giô-áp cha của Ghê Kha-ra-sim, vì họ là những người thợ thủ công.
 
15Các con của ông Ca-lếp, con ông Giơ-phun-ne, là : I-ru, Ê-la, Na-am. Con của Ê-la là Cơ-nát.
 
16Các con của ông Giơ-ha-len-ên là Díp, Di-pha, Tia-gia, A-xác-ên. 17; Các con của ông Ét-ra là Gie-the, Me-rét, E-phe, Gia-lôn.
 
và bà mang thai Mi-ri-am, Sam-mai, Gít-bác, cha của Ét-tơ-mô-a.
 
18Vợ ông, một người Giu-đa, đã sinh ra Gie-rét, cha của Gơ-đo, rồi sinh Khe-ve, cha của Xô-khô, Giơ-cô-thi-ên, cha của Da-nô-ác.
 
Đây là các con bà Bít-gia, công chúa của Pha-ra-ô mà ông Me-rét đã cưới làm vợ;
 
19Các con bà vợ ông Hô-đi-gia, chị em với ông Na-kham là : cha của các ông Cơ-i-la, người Gác-mi và Ét-tơ-mô-a, người Ma-a-kha.
 
20Các con ông Si-môn là : Am-nôn, Rin-na, Ben Kha-nan, Ti-lôn.
 
Các con ông Gít-i là Dô-khết và Ben Dô-khết.
 
21Các con ông Sê-la, con ông Giu-đa, là : E, cha của Lê-kha, La-đa, cha của Ma-rê-sa và các thị tộc những người dệt gấm tại Bết Át-bê-a ; 22Giô-kim, các người Cô-dê-va, Giô-át và Xa-ráp, những người đã làm chủ Mô-áp, rồi lại trở về Bê-lem. Đó là (chuyện xưa). 23Những người này là thợ gốm, họ cư ngụ tại Nơ-ta-im và Gơ-đê-ra ; họ ở đấy với đức vua để phục vụ ông.
 
24Các con ông Si-mê-ôn là : Nơ-mu-ên, Gia-min, Gia-ríp, De-rác, Sa-un, 25Sa-lum con ông, Míp-xam con ông, Mít-ma con ông. 26Các con ông Mít-ma là : Kham-mu-ên con ông, Dắc-cua con ông, Sim-y con ông. 27Ông Sim-y được mười sáu người con trai và sáu người con gái, còn anh em ông thì không có nhiều con cái, và các thị tộc của họ không phát triển được như con cái Giu-đa.
 
28Họ cư ngụ tại Bơ-e Se-va, Mô-la-đa và Kha-xa Su-an, 29tại Bin-ha, tại E-xem và tại Tô-lát, 30tại Bơ-thu-ên, tại Khoóc-ma, tại Xích-lắc, 31tại Bết Mác-ca-vốt, tại Kha-xa Xu-xim, tại Bết Bia-i và tại Sa-a-ra-gim. Đấy là các thành của họ cho tới khi vua Đa-vít lên ngôi. 32Còn các thôn làng của họ thì có năm là : Ê-tham, A-gin, Rim-môn, Tô-khen, A-san ; 33và tất cả các thôn làng nằm chung quanh các thành ấy cho cho tới Ba-an. Đó là những nơi họ cư trú và được đăng bộ. 34Mơ-sô-váp, Giam-lếch, Giô-sa, con của A-mát-gia, 35Giô-en, Giê-hu, con của Giô-síp-gia, con của Xơ-ra-gia, con của A-xi-ên, 36En-giô-ê-nai, Gia-a-cô-va, Giơ-sô-kha-gia, A-xa-gia, A-đi-ên, Giơ-xi-mi-ên, Bơ-na-gia, 37Di-da, Ben Síp-y, Ben A-lôn, Ben Giơ-đa-gia, Ben Sim-ri, Ben Sơ-ma-gia. 38Những người ấy được ghi đích danh, đều là những người đứng đầu các thị tộc, và các gia tộc của họ đã tăng lên rất nhiều. 39Từ lối vào Gơ-đo, họ đi tới phía đông thung lũng để tìm đồng cỏ cho đoàn vật của mình. 40Họ tìm được những đồng cỏ xanh tươi, tốt đẹp, và đất đai thì rộng thênh thang, lại an toàn và yên ổn : vì trước kia con cái ông Kham đã cư ngụ tại đó.
 
41Các người được ghi đích danh ấy đã tới vào thời vua Khít-ki-gia làm vua Giu-đa ; họ đánh chiếm các lều trại và gia cư gặp thấy ở đó. Họ áp dụng luật tru hiến cho những thứ ấy đến ngày nay. Rồi họ định cư thay thế người ta, vì ở đấy có đồng cỏ cho đoàn vật của họ.
 
42Năm trăm người trong số con cái Si-mê-ôn đi tới vùng núi Xê-ia, đứng đầu là ông Pơ-lát-gia, ông Nơ-ác-gia, ông Rơ-pha-gia, ông Út-di-ên, các con ông Gít-i. 43Họ giết hết số người A-ma-lếch thoát chết còn sót lại, rồi cư ngụ ở đó cho đến ngày nay.
 
 
51 Các con ông Rưu-vên, người con đầu lòng của ông Ít-ra-en. Chính ông, người con đầu lòng đó, nhưng vì ông đã làm nhơ bẩn giường của cha ông, nên quyền trưởng nam của ông đươc trao cho các con ông Giu-se, con ông Ít-ra-en ; ông không được thừa hưởng quyền trưởng nam nữa. 2 Tuy ông Giu-đa trổi hơn anh em mình, vì một vị thủ lãnh đã xuất thân từ nơi ông, nhưng quyền trưởng nam lại thuộc về ông Giu-se.
 
3 Các con ông Rưu-vên, người con đầu lòng của ông Ít-ra-en, là : Kha-nốc, Pa-lu, Khét-rôn, Các-mi.
 
4 Các con ông Giô-en là : Sơ-ma-gia con ông, Gốc con ông, Sim-y con ông, 5 Mi-kha con ông, Rơ-a-gia con ông, Ba-an con ông, 6 Bê-ơ-ra con ông, người đã bị vua Tích-lát Pi-le-xe bắt đi đày. Chính ông là thủ lãnh các người họ Rưu-vên.
 
7 Các anh em của ông, tính theo thị tộc và được đăng bộ theo gia phả : đứng đầu là Giơ-y-ên, rồi Dơ-khác-gia-hu, 8 Be-la con của A-dát, con của Se-ma, con của Giô-en.
 
Chi tộc Rưu-vên cư ngụ tại A-rô-e, cho đến tận Nơ-vô và Ba-an Mơ-ôn. 9 Về phía đông họ lập cư cho tới ven sa mạc tiếp cận sông Êu-phơ-rát, vì họ có nhiều súc vật trong xứ Ga-la-át.
 
10Thời vua Sa-un, họ đánh nhau với dân Ha-ga, nhưng đã rơi vào tay chúng và chúng đã lập cư trong các lều trại của họ trên toàn phía đông xứ Ga-la-át.
 
11Đối diện với họ là con cái ông Gát lập cư trong đất Ba-san cho tới Xan-kha. 12Đứng đầu là Giô-en, thứ đến là Sa-pham, rồi Gia-nai và Sa-phát tại Ba-san.
 
13Anh em của họ, theo gia tộc tổ tiên, là : Mi-kha-ên, Mơ-su-lam, Se-va, Giô-rai, Gia-can, Di-a, Ê-ve : tất cả là bảy người.
 
14Đây là các con của ông A-vi-kha-gin : Ben Khu-ri, Ben Gia-rô-ác, Ben Ga-la-át, Ben Mi-kha-ên, Ben Giơ-si-sai, Ben Giác-đô, Ben Bút. 15A-khi, con của Áp-đi-ên, con của Gu-ni, là người đứng đầu gia tộc tổ tiên họ.
 
16Họ cư ngụ tại Ga-la-át, tại Ba-san và các nơi phụ cận, cũng như tại tất cả các đồng cỏ Sa-rôn cho tới ranh giới cuối cùng của các đồng cỏ ấy. 17Tất cả những người ấy đã đăng bộ thời vua Giô-tham cai trị Giu-đa và vua Gia-róp-am cai trị Ít-ra-en.
 
18Con cái chi tộc Rưu-vên và chi tộc Gát, một nửa chi tộc Mơ-na-se, một số các dũng sĩ, những người biết dùng thuẫn và gươm, biết giương cung và thạo việc binh đao : tất cả là bốn mươi bốn ngàn bảy trăm sáu mươi người rành nghề chinh chiến. 19Họ đánh nhau với dân Ha-ga tại Giơ-tua, Na-phít và Nô-đáp. 20Họ được Thiên Chúa trợ giúp chống lại chúng ; quân Ha-ga và tất cả đồng minh của chúng đã bị trao vào tay họ, vì họ đã kêu lên cùng Thiên Chúa khi giao chiến ; Người đã nghe lời họ, vì họ tin tưởng nơi Người. 21Họ chiếm đoạt các đoàn vật của chúng : năm mươi ngàn lạc đà, hai trăm năm mươi ngàn chiên cừu, hai ngàn con lừa và giết một trăm ngàn nhân mạng. 22Sở dĩ có nhiều người bị gươm đâm ngã gục, là vì trận chiến do Thiên Chúa. Họ chiếm chỗ dân ấy và lập cư cho đến thời lưu đày.
 
23Con cháu một nửa chi tộc Ma-nơ-se lập cư trong vùng nằm giữa Ba-san và Ba-an Khéc-môn, Xơ-nia và núi Khéc-môn. Họ thật đông. 24Đây là những người đứng đầu các gia tộc tổ tiên họ : Ê-phe, Gít-i, Ê-li-ên, Át-ri-ên, Giếc-mơ-gia, Hô-đát-gia, Giác-đi-ên. Họ là những anh hùng dũng sĩ, những người nổi danh, những người đứng đầu các gia tộc tổ tiên họ. 25Nhưng họ lại thất trung với Thiên Chúa của tổ tiên họ, và đàng điếm theo các thần của dân địa phương mà Thiên Chúa đã tiêu diệt trước mặt họ. 26Thiên Chúa Ít-ra-en kích động tinh thần vua Pun xứ Át-sua, và tinh thần vua Tích-lát Pi-le-xe xứ Át-sua, người đã đày con cái chi tộc Rưu-vên, chi tộc Gát cùng một nửa chi tộc Mơ-na-se, và đưa họ tới Khơ-lác, Kha-vo, Kha-ra và sông Gôn-dan cho đến ngày nay.
 
27Các con ông Lê-vi là Ghéc-sôn, Cơ-hát, Mơ-ra-ri. 28Các con ông Cơ-hát là : Am-ram, Gít-ha, Khép-rôn, Út-di-ên. 29Các con ông Am-ram là : A-ha-ron, Mô-sê, Mi-ri-am. Các con ông A-ha-ron là : Na-đáp, A-vi-hu, E-la-da, I-tha-ma.
 
30E-la-da sinh Pin-khát ; Pin-khát sinh A-vi-su-a. 31A-vi-su-a sinh Búc-ki ; Búc-ki sinh Út-di. 32Út-di sinh Dơ-rác-gia ; Dơ-rác-gia sinh Mơ-ra-giốt. 33Mơ-ra-giốt sinh A-mác-gia ; A-mác-gia sinh A-khi-túp. 34A-khi-túp sinh Xa-đốc ; Xa-đốc sinh A-khi-ma-át. 35A-khi-ma-át sinh A-dác-gia ; A-dác-gia sinh Giô-kha-nan. 36Giô-kha-nan sinh A-dác-gia. Ông này là người đã thi hành chức vụ tư tế trong đền thờ vua Sa-lô-môn đã xây ở Giê-ru-sa-lem. 37A-dác-gia sinh A-mác-gia ; A-mác-gia sinh A-khi-túp. 38A-khi-túp sinh Xa-đốc ; Xa-đốc sinh Sa-lum. 39Sa-lum sinh Khin-ki-gia ; Khin-ki-gia sinh A-dác-gia. 40A-dác-gia sinh Xơ-ra-gia ; Xơ-ra-gia sinh Giơ-hô-xa-đắc. 41Giơ-hô-xa-đắc đi lưu đày khi ĐỨC CHÚA phát lưu Giu-đa và Giê-ru-sa-lem thời vua Na-bu-cô-đô-nô-xo.
 
 
61 Các con ông Lê-vi là Ghéc-sôm, Cơ-hát, Mơ-ra-ri.
 
2 Đây là tên các con ông Ghéc-sôm : Líp-ni, Sim-y. 3 Các con ông Cơ-hát là : Am-ram, Gít-ha, Khép-rôn, Út-di-ên. 4 Các con ông Mơ-ra-ri là : Mác-li, Mu-si. Đó là các thị tộc người Lê-vi theo tổ tiên họ.
 
5 Thuộc về ông Ghéc-sôm có Líp-ni con ông, Gia-khát con ông, Dim-ma con ông. 6 Giô-ác con ông, Ít-đô con ông, De-rác con ông, Giơ-át-rai con ông.
 
7 Các con ông Cơ-hát là : Am-mi-na-đáp con ông, Cô-rắc con ông, Át-xia con ông, 8 En-ca-na con ông, Ép-gia-xáp con ông, Át-xia con ông, 9 Ta-khát con ông, U-ri-ên con ông, Út-di-gia con ông, Sa-un con ông. 10Các con ông En-ca-na là : A-ma-xai và A-khi-mốt, 11En-ca-na con ông, Xô-phai con ông, Na-khắt con ông, 12Ê-li-áp con ông, Giơ-rô-kham con ông, En-ca-na. 13Các con ông En-ca-na là : Sa-mu-en con trưởng và A-vi-gia con thứ.
 
14Các con ông Mơ-ra-ri là : Mác-li, Líp-ni con ông, Sim-y con ông, Út-da con ông, 15Sim-a con ông, Khác-ghi-gia con ông, A-xa-gia con ông. Các ca sĩ
 
16Đây là những người vua Đa-vít đã đặt lên điều khiển việc ca hát trong Nhà ĐỨC CHÚA, sau khi Hòm Bia an vị tại đó. 17Công việc của họ trước Nhà Lều Hội Ngộ là ca hát, cho tới khi vua Sa-lô-môn xây Đền Thờ Đức Chúa tại Giê-ru-sa-lem ; họ thi hành luật dịch vụ theo luật lệ của họ.
 
18Đây là những người thi hành công tác và con cái họ.
 
Trong số các con ông Cơ-hát có Hê-man ca trưởng, con của Giô-en, con của Sa-mu-en, 19con của En-ca-na, con của Giơ-rô-kham, con của Ê-li-ên, con của Tô-ác, 20con của Xúp, con của En-ca-na, con của Ma-khát, con của A-ma-xai, 21con của En-ca-na, con của Giô-en, con của A-dác-gia, con của Xơ-phan-gia, 22con của Ta-khát, con của Át-xia, con của Ép-gia-xáp, con của Cô-rắc, 23con của Gít-ha, con của Cơ-hát, con của Lê-vi, con của Ít-ra-en.
 
24Em ông Hê-man là A-xáp đứng bên phải ông. A-xáp, con của Be-réc-gia-hu, con của Sim-a, 25con của Mi-kha-ên, con của Ba-a-xê-gia, con của Man-ki-gia, 26con của Ét-ni, con của De-rác, con của A-đa-gia, 27con của Ê-than, con của Dim-ma, con của Sim-y, 28con của Gia-khát, con của Ghéc-sôm, con của Lê-vi.
 
29Các con ông Mơ-ra-ri, anh em của họ, đứng bên trái : Ê-than, con của Ki-si, con của Áp-đi, con của Ma-lúc, 30con của Kha-sáp-gia, con của A-mát-gia, con của Khin-ki-gia, 31con của Am-xi, con của Ba-ni, con của Se-me, 32con của Mác-li, con của Mu-si, con của Mơ-ra-ri, con của Lê-vi.
 
33Các thầy Lê-vi, anh em của họ, là những người được dâng hiến để thi hành mọi dịch vụ Nhà Tạm, Đền Thờ của Thiên Chúa. 34Ông A-ha-ron và các con là những người đốt lễ vật trên bàn thờ toàn thiêu và trên bàn thờ dâng hương ; họ lo chu toàn mọi tác vụ cực thánh và cử hành nghi thức xá tội cho Ít-ra-en, theo đúng mọi điều ông Mô-sê, tôi tớ của Thiên Chúa đã truyền.
 
35Đây là các con ông A-ha-ron : E-la-da con ông, Pin-khát con ông, A-vi-su-a con ông, 36Búc-ki con ông, Út-di con ông, Dơ-rác-gia con ông, 37Mơ-ra-giốt con ông, A-mác-gia con ông, A-khi-túp con ông, 38Xa-đốc con ông, A-khi-ma-át con ông.
 
39Đây là nơi cư trú của họ, theo ranh giới các trại dành cho họ :
 
Vì con cháu ông A-ha-ron thuộc thị tộc Cơ-hát được phần nhất, 40nên người ta cho họ vùng Khép-rôn trong đất Giu-đa, cùng với các đồng cỏ chung quanh. 41Đồng ruộng của thành ấy và các thôn làng thì người ta cho ông Ca-lếp con ông Giơ-phun-ne. 42Nhưng người ta lại cho con cháu ông A-ha-ron các thành tị nạn là Khép-rôn và Líp-na với các đồng cỏ, Giát-tia, Ét-tơ-mô-a với các đồng cỏ, 43Khi-lết với các đồng cỏ, Đơ-via với các đồng cỏ, 44A-san với các đồng cỏ, Bết Se-mét với các đồng cỏ. 45Còn chi tộc Ben-gia-min thì người ta cho họ : Ghe-va với các đồng cỏ, A-le-mét với các đồng cỏ, A-na-tốt với các đồng cỏ. Tất cả các thành của họ là mười ba, tính theo số các thị tộc của họ.
 
46Còn những người con khác của ông Cơ-hát thì bắt thăm được mười thành lấy từ chi tộc Ép-ra-im, chi tộc Đan và nửa chi tộc Mơ-na-se. 47Các con ông Ghéc-sôm, theo các thị tộc của họ, được mười ba thành lấy của chi tộc Ít-xa-kha, chi tộc A-se, chi tộc Náp-ta-li, chi tộc Mơ-na-se ở Ba-san. 48Các con ông Mơ-ra-ri, theo các thị tộc của họ, rút thăm được mười hai thành lấy của chi tộc Rưu-vên, chi tộc Gát, chi tộc Dơ-vu-lun. 49. Con cái Ít-ra-en đã cấp cho các người Lê-vi các thành cùng với các đồng cỏ.
 
50Người ta cũng rút thăm trao cho họ các thành lấy của chi tộc con cái Giu-đa, chi tộc con cái Si-mê-ôn, chi tộc con cái Ben-gia-min. Họ đã lấy tên mình mà đặt cho các thành ấy.
 
51Một số các thị tộc con cái Cơ-hát đã rút thăm được các thành lấy của chi tộc Ép-ra-im. 52Người ta cấp cho họ các thành trú ẩn sau đây : Si-khem với các đồng cỏ trong vùng núi Ép-ra-im, Ghe-de với các đồng cỏ, 53Gióc-mơ-am với các đồng cỏ, Bết Khô-rôn với các đồng cỏ, 54Ai-gia-lôn với các đồng cỏ, Gát Rim-môn với các đồng cỏ. 55Và lấy thành A-ne với các đồng cỏ, và Bi-lơ-am với các đồng cỏ của một nửa chi tộc Mơ-na-se, để trao cho thị tộc những người con còn lại của ông Cơ-hát.
 
56Phần dành cho các con ông Ghéc-sôm : lấy của các thị tộc thuộc một nửa chi tộc Mơ-na-se là Gô-lan ở Ba-san với các đồng cỏ, Át-ta-rốt với các đồng cỏ ; 57lấy của chi tộc Ít-xa-kha là Ke-đét với các đồng cỏ, Đa-vơ-rát với các đồng cỏ, 58Ra-mốt với các đồng cỏ, A-nêm với các đồng cỏ ; 59lấy của chi tộc A-se là Ma-san với các đồng cỏ, Áp-đôn với các đồng cỏ, 60Khu-cốc với các đồng cỏ, Rơ-khốp với các đồng cỏ ; 61lấy của chi tộc Náp-ta-li là Ke-đét ở Ga-li-lê với các đồng cỏ, Kham-môn với các đồng cỏ, Kia-giát-tha-gim với các đồng cỏ.
 
62Phần dành cho các người con khác của ông Mơ-ra-ri : lấy của chi tộc Dơ-vu-lun là Rim-môn với các đồng cỏ, Ta-bo với các đồng cỏ. 63Từ bên kia sông Gio-đan, gần Giê-ri-khô, phía đông sông Gio-đan ; lấy của chi tộc Rưu-vên là Be-xe trong sa mạc với các đồng cỏ, Gia-hát với các đồng cỏ, 64Cơ-đê-mốt với các đồng cỏ, Mê-pha-át với các đồng cỏ, 65lấy của chi tộc Gát là Ra-mốt tại Ga-la-át với các đồng cỏ, Ma-kha-na-gim với các đồng cỏ, 66Khét-bôn với các đồng cỏ, Gia-de với các đồng cỏ.
 
 
71 Các con ông Ít-xa-kha là : Tô-la, Pu-a, Gia-súp, Sim-rôn : tất cả là bốn người.
 
2 Các con ông Tô-la là : Út-di, Rơ-pha-gia, Giơ-ri-ên, Giác-mai, Gíp-xam, Sơ-mu-ên. Họ là những người đứng đầu các gia tộc tổ tiên ông Tô-la, những anh hùng dũng sĩ theo dòng tộc của họ. Thời vua Đa-vít, số người của họ là hai mươi hai ngàn sáu trăm.
 
3 Con của Út-di là Gít-rác-gia. Con của Gít-rác-gia là Mi-kha-ên, Ô-vát-gia, Giô-en, Gít-si-gia : tất cả là năm người lãnh đạo. 4 Các ông này, thuộc dòng họ, theo gia tộc tổ tiên mình, chịu trách nhiệm về các đơn vị được võ trang để chiến đấu, gồm ba mươi sáu ngàn người, vì họ là những người lắm vợ nhiều con. 5 Anh em của họ là những anh hùng dũng sĩ thuộc mọi thị tộc Ít-xa-kha, tổng số được kiểm tra là tám mươi bảy ngàn người.
 
6 Các con ông Ben-gia-min là : Be-la, Be-khe, Giơ-đi-a-ên : tất cả là ba người.
 
7 Các con ông Be-la là : Ét-bôn, Út-di, Út-di-ên, Giơ-ri-mốt, I-ri : năm anh hùng dũng sĩ, đứng đầu các gia tộc tổ tiên gồm hai mươi hai ngàn không trăm ba mươi bốn người.
 
8 Các con ông Be-khe là : Dơ-mi-ra, Giô-át, Ê-li-e-de, En-giô-ê-nai, Om-ri, Giơ-rê-mốt, A-vi-gia, A-na-thốt, A-le-mét. Tất cả những người này đều là con ông Be-khe, 9 các anh hùng dũng sĩ, đứng đầu các gia tộc tổ tiên của họ, được đăng bộ theo các dòng họ, là hai mươi ngàn hai trăm người.
 
10Con của Giơ-đi-a-ên là : Bin-han ; các con của Bin-han là : Giơ-út, Ben-gia-min, Ê-hút, Cơ-na-a-na, Dê-than, Tác-sít, A-khi-sa-kha. 11Tất cả những người này đều là con ông Giơ-đi-a-ên, những anh hùng dũng sĩ, đứng đầu các gia tộc gồm mười bảy ngàn người đã nhập ngũ để sẵn sàng chiến đấu.
 
12Súp-pim và Khúp-pim là con của Ia, Khu-sim con của A-khe. Ngành ông Náp-ta-li (Dan 26:48-50; Sa 46:24)
 
13Các con ông Náp-ta-li là : Gia-kha-xi-ên, Gu-ni, Giê-xe, Sa-lum. Đó là các con bà Bin-ha.
 
14Các con ông Mơ-na-se là Át-ri-ên, do nàng tỳ thiếp người A-ram của ông sinh ra, bà còn sinh Ma-khia, cha của Ga-la-át. 15Ông Ma-khia cưới vợ cho Khúp-pim và Súp-pim. Em gái ông tên là Ma-a-kha.
 
Tên người con thứ là Xơ-lóp-khát. Ông Xơ-lóp-khát chỉ có con gái.
 
16Bà Ma-a-kha, vợ ông Ma-khia, sinh con trai và đặt tên là Pe-rét ; người em của ông này là Se-rét và các con ông là U-lam và Re-kem.
 
17Con của U-lam là Bơ-đan. Đó là các con của Ga-la-át, con của Ma-khia, con của Mơ-na-se.
 
18Em gái ông là bà Mô-le-khét. Bà sinh ra Ít-hốt, A-vi-e-de và Mác-la.
 
19Các con ông Sơ-mi-đa là : A-khơ-gian, Se-khem, Lích-khi và A-ni-am.
 
20Các con ông Ép-ra-im là Su-the-lác, Be-rét con ông, Ta-khát con ông, En-a-đa con ông, Ta-khát con ông, 21Da-vát con ông, Su-the-lác con ông, Ê-de, En-át.
 
Những người Gát, dân địa phương ở đó, tàn sát họ, vì họ đã xuống cướp bóc đàn vật của chúng. 22Ông Ép-ra-im, cha của họ, đã than khóc họ lâu ngày, và anh em ông đã đến yên ủi ông. 23Bấy giờ ông đến với vợ ông ; bà mang thai và sinh con. Ông đặt tên cho con là Bơ-ri-a, vì lúc ấy gia đình ông gặp điều bất hạnh. 24Con gái ông là Se-e-ra, người đã xây thành Bết Khô-rôn Hạ cũng như Thượng và thành Út-dên Se-e-ra.
 
25Re-phác là con ông, Re-sép con ông, Te-lác con ông, Ta-khan con ông, 26La-đan con ông, A-mi-hút con ông, Ê-li-sa-ma con ông, 27Nun con ông, Giô-suê con ông. 28Đất đai và gia cư của họ là Bết Ên và vùng phụ cận ; phía đông là Na-a-ran ; phía tây là Ghe-de và vùng phụ cận. 29Nằm trong tay con cái Mơ-na-se là : Bết San và vùng phụ cận, Ta-nác và vùng phụ cận, Mơ-ghít-đô và vùng phụ cận, Đo và vùng phụ cận. Con cháu ông Giu-se, con ông Ít-ra-en cư ngụ tại các nơi ấy.
 
30Các con ông A-se là Gim-na, Gít-va, Gít-vi, Bơ-ri-a và Xe-rác, em gái họ.
 
31Các con ông Bơ-ri-a là Khe-ve và Man-ki-ên. Ông này là cha của Bia-da-gít. 32Ông Khe-ve sinh Giáp-lết, Sô-me, Khô-tam và Su-a, em gái họ. 33Các con ông Giáp-lết là Pa-xác, Bin-han, A-vát. Đó là các con ông Giáp-lết.
 
34Các con ông Sô-me, em ông Giáp-lết, là Rô-ga, Giơ-khúp-ba, A-ram.
 
35Các con ông Hê-lem, em ông, là : Xô-phác, Gim-na, Sê-lét, A-man. 36Các con ông Xô-phác là : Xu-ác, Khác-ne-phe, Su-an, Bê-ri, Gim-ra, 37Be-xe, Hốt, Sam-ma, Sin-sa, Gít-ran, Bơ-ê-ra. 38Các con ông Ghe-the là : Giơ-phun-ne, Pít-pa, Ơ-ra.
 
39Các con ông U-la là : A-rác, Khan-ni-ên, Rít-gia.
 
40Tất cả những người đó đều là các con ông A-se, đứng đầu các gia tộc tổ tiên ; họ là những tinh binh, anh hùng dũng sĩ, đứng đầu các vương công, được đăng bộ vào quân ngũ để chiến đấu, tổng số là hai mươi sáu ngàn người.
 
 
81 Ông Ben-gia-min sinh con đầu lòng là Be-la, con thứ là Át-bên, con thứ ba là Ác-rác, 2 con thứ tư là Nô-khác, con thứ năm là Ra-pha. 3 Ông Be-la có những người con sau đây : Át-đa, Ghê-ra, cha của Ê-hút, 4 A-vi-su-a, Na-a-man, A-khô-ác, 5 Ghê-ra, Sơ-phu-phan, Khu-ram.
 
6 Đây là các con ông Ê-hút, những người đứng đầu các gia tộc tổ tiên của dân cư Ghe-va, và đã dẫn họ đi lưu đày tại Ma-na-khát : 7 Na-a-man, A-khi-gia, Ghê-ra là người dẫn họ đi lưu đày ; ông đã sinh ra Út-da và A-khi-khút.
 
8 Ông Sa-kha-ra-gim sinh con cái trong cánh đồng Mô-áp, sau khi đã rẫy các bà vợ của ông là Khu-sim và Ba-a-ra. 9 Với bà vợ mới, ông sinh Giô-váp, Xíp-gia, Mê-sa, Man-cam, 10Giơ-úc, Xác-gia, Mia-ma. Đó là các con ông, những người đứng đầu các gia tộc.
 
11Với bà Khu-sim, ông sinh A-vi-túp, En-pa-an. 12Các con ông En-pa-an là Ê-ve, Mi-sơ-am, Se-mét ; ông này đã xây thành Ô-nô, thành Lốt và vùng phụ cận.
 
13Ông Bơ-ri-a và ông Se-ma là những người đứng đầu các gia tộc tại Ai-gia-lôn. Chính họ đã làm cho dân cư Gát phải trốn chạy.
 
14Anh em của ông là Sa-sắc.Giơ-rê-mốt, 15Dơ-vát-gia, A-rát, Ê-đe, 16Mi-kha-ên, Gít-pa và Giô-kha là các con của Bơ-ri-a.
 
17Dơ-vát-gia, Mơ-su-lam, Khít-ki, Khe-ve, 18Gít-mơ-rai, Gít-li-a và Giô-váp là các con của En-pa-an. 19Gia-kim, Dích-ri, Dáp-đi, 20Ê-li-e-nai, Xi-lơ-thai, Ê-li-ên, 21A-đa-gia, Bơ-ra-gia và Sim-rát là các con của Sim-y.
 
22Gít-pan, Ê-ve, Ê-li-ên, 23Áp-đôn, Dích-ri, Kha-nan, 24Kha-nan-gia, Ê-lam, An-thô-thi-gia, 25Gíp-đơ-gia và Pơ-nu-ên là các con của Sa-sắc.
 
26Sam-sơ-rai, Sơ-khác-gia, A-than-gia, 27Gia-a-rét-gia, Ê-li-gia và Dích-ri là các con của Giơ-rô-kham. 28Đó là những người đứng đầu các gia tộc theo dòng họ của mình. Họ cư ngụ tại Giê-ru-sa-lem.
 
29Cư ngụ tại Ghíp-ôn có : Giơ-y-ên cha của Ghíp-ôn ; vợ ông tên là Ma-a-kha, 30con đầu lòng của ông là Áp-đôn, rồi Xua, Kít, Ba-an, Na-đáp, 31Gơ-đo, Ác-giô, De-khe, Mích-lốt. 32Ông Mích-lốt sinh Sim-a ; cả các người này nữa, cũng như các anh em họ, đều cư ngụ tại Giê-ru-sa-lem cùng với anh em họ.
 
33Ông Ne sinh ra Kít, Kít sinh Sa-un, Sa-un sinh Giơ-hô-na-than, Man-ki Su-a, A-vi-na-đáp, Ét-ba-an. 34Con của Giơ-hô-na-than là Mơ-ríp-ba-an ; Mơ-ríp-ba-an sinh Mi-kha. 35Các con của Mi-kha là : Pi-thôn, Me-léc, Ta-rê-a, A-khát. 36A-khát sinh Giơ-hô-át-đa, Giơ-hô-át-đa sinh A-le-mét, Át-ma-vét, Dim-ri. Dim-ri sinh Mô-xa, 37Mô-xa sinh Bin-a.
 
Ra-pha con ông, En-a-xa con ông, A-xên con ông.
 
38Ông A-xên được sáu người con trai. Đây là tên của họ : Át-ri-cam con đầu lòng, rồi Gít-ma-ên, Sơ-ác-gia, Ô-vát-gia, Kha-nan. Tất cả những người đó đều là con ông A-xên.
 
39Các con ông Ê-séc, em ông, là : U-lam con đầu lòng, Giơ-út con thứ, Ê-li-phe-lét con thứ ba. 40Các con của U-lam là những người dũng cảm, biết giương cung và đều đông con nhiều cháu, đến một trăm năm mươi người. Tất cả những người ấy là con cháu ông Ben-gia-min.
 
 
91 Toàn dân Ít-ra-en đã được đăng bộ và ghi vào sách các vua Ít-ra-en và Giu-đa ; họ bị đày sang Ba-by-lon vì đã làm những điều gian ác. 2 Những người đầu tiên được cư ngụ trên các phần đất gia nghiệp trong các thành của họ là những người Ít-ra-en, các tư tế, các thầy Lê-vi và những người phục vụ Đền Thờ. 3 Cư ngụ tại Giê-ru-sa-lem là một số con cháu Giu-đa, con cháu Ben-gia-min, con cháu Ép-ra-im và Mơ-na-se.
 
4 Ông U-thai con của A-mi-hút, con của Om-ri, con của Im-ri, con của Ba-ni trong số con cháu ông Pe-rét, con ông Giu-đa. 5 Trong số các người Si-lô có A-xa-gia con đầu lòng và các con ông. 6 Trong số con cháu ông De-rác có Giơ-u-ên và các anh em ông ; tất cả là sáu trăm chín mươi người.
 
7 Trong số con cháu Ben-gia-min có Xa-lu con của Mơ-su-lam, con của Hô-đát-gia, con của Ha Xơ-nu-a ; 8 Gíp-nơ-gia con của Giơ-rô-kham ; Ê-la con của Út-di, con của Mích-ri ; Mơ-su-lam con của Sơ-phát-gia, con của Rơ-u-ên, con của Gíp-ni-gia. 9 Anh em của họ, tính theo gia phả, là chín trăm năm mươi sáu người. Tất cả đều là những người đứng đầu các gia tộc tổ tiên họ.
 
10Trong số các tư tế có Giơ-đa-gia, Giơ-hô-gia-ríp, Gia-khin ; 11A-dác-gia con của Khin-ki-gia, con của Mơ-su-lam, con của Xa-đốc, con của Mơ-ra-giốt, con của A-khi-túp quản đốc Nhà Thiên Chúa. 12A-đa-gia con của Giơ-rô-kham, con của Pát-khua, con của Man-ki-gia, Ma-xai con của A-đi-ên, con của Giác-dê-ra, con của Mơ-su-lam, con của Mơ-si-lê-mít, con của Im-me. 13Họ có anh em đứng đầu các gia tộc tổ tiên họ là một ngàn bảy trăm sáu mươi anh hùng dũng sĩ được chỉ định phục dịch Nhà Thiên Chúa.
 
14Trong các thầy Lê-vi có Sơ-ma-gia, con của Kha-súp, con của Át-ri-cam, con của Kha-sáp-gia thuộc hàng con cháu ông Mơ-ra-ri ; 15Bác-bắc-ca, Khe-rét, Ga-lan, Mát-tan-gia, con của Mi-kha, con của Dích-ri, con của A-xáp ; 16Ô-vát-gia con của Sơ-ma-gia, con của Ga-lan, con của Giơ-đu-thun ; Be-rét-gia, con của A-xa, con của En-ca-na là người cư ngụ trong các thôn làng của người Nơ-tô-pha.
 
17Các người giữ cửa là Sa-lum, Ắc-cúp, Tan-môn, A-khi-man. Ông Sa-lum, anh em của họ, là người đứng đầu. 18Cho đến bây giờ họ còn túc trực tại cửa ngọ môn, bên phía đông. Họ là những người giữ cửa các doanh trại con cháu Lê-vi. 19Ông Sa-lum con của Cô-rê, con của Ép-gia-xáp, con của Cô-rắc và các anh em cùng thuộc gia đình Cô-rắc, thì lo công việc phục dịch của người giữ cửa Lều, cũng như cha ông họ có trách nhiệm giữ lối vào doanh trại ĐỨC CHÚA. 20Ông Pin-khát con của E-la-da xưa kia đã từng là quản đốc của họ -xin ĐỨC CHÚA ở với ông- 21cũng như ông Dơ-khác-gia con ông Mơ-se-lem-gia đã từng là người giữ cửa vào Lều Hội Ngộ. 22Tổng số những người được tuyển chọn để canh cửa là hai trăm mười hai người. Những người này được đăng bộ tại các thôn làng của họ, nhưng đã được vua Đa-vít và thầy thị kiến Sa-mu-en cắt đặt vĩnh viễn. 23Những người này và con cháu họ có nhiệm vụ canh giữ Nhà ĐỨC CHÚA, tức Nhà Lều. 24Có các người giữ cửa tại bốn hướng : đông, tây, nam, bắc. 25Anh em của họ, những người cư ngụ tại các thôn làng, thì lâu lâu phải đến với họ một tuần, 26vì có bốn người cai cửa thường trực ; họ đều là những thầy Lê-vi được chỉ định trông coi các phòng ốc và các kho bạc Nhà Thiên Chúa. 27Họ nghỉ đêm chung quanh Nhà Thiên Chúa, vì họ phải trông coi Nhà ấy, và sáng nào cũng phải mở cửa.
 
28Trong số họ có mấy người được chỉ định trông coi các đồ thờ ; họ phải đếm những thứ này lúc đưa vô đưa ra. 29Một số khác được chỉ định trông coi các vật dụng, tất cả đồ thánh, tinh bột, rượu, dầu, hương và thuốc thơm. 30Trong số con cái hàng tư tế có người lo pha chế dầu thơm.
 
31Ông Mát-tít-gia, một thầy Lê-vi, con đầu lòng ông Sa-lum, thuộc gia đình Cô-rắc, có nhiệm vụ thường xuyên nướng bánh trên vỉ. 32Trong số các anh em của họ thuộc gia đình Cơ-hát, có người lo dọn bánh tiến các ngày sa-bát.
 
33Đây là các ca sĩ, những người đứng đầu các gia đình Lê-vi, được ở trong các phòng ốc, được miễn mọi việc khác, vì ngày đêm họ phải lo phận vụ của họ.
 
34Những người đó là những người đứng đầu các gia đình Lê-vi, đứng đầu theo dòng họ của mình ; họ cư ngụ tại Giê-ru-sa-lem.
 
35Cư ngụ tại Ghíp-ôn có ông tổ của dòng họ Ghíp-ôn là Giơ-y-ên, với người vợ là Ma-a-kha ; 36con đầu lòng của ông là Áp-đôn, rồi Xua, Kít, Ba-an, Ne, Na-đáp, 37Gơ-đo, Ác-giô, Dơ-khác-gia, Mích-lốt. 38Mích-lốt sinh Sim-am ; cả các người này nữa cũng như anh em của họ đều cư ngụ tại Giê-ru-sa-lem cùng với anh em mình.
 
39Ông Ne sinh Kít, Kít sinh Sa-un, Sa-un sinh Giơ-hô-na-than, Man-ki Su-a, A-vi-na-đáp, Ét-ba-an. 40Con Giơ-hô-na-than là Mơ-ríp-ba-an ; Mơ-ríp-ba-an sinh Mi-kha. 41Các con của Mi-kha là : Pi-thôn, Me-léc, Tác-rê-a. 42A-khát sinh Gia-ra, Gia-ra sinh A-le-mét, Át-ma-vét, Dim-ri ; Dim-ri sinh Mô-xa. 43Mô-xa sinh Bin-a.
 
Rơ-pha-gia con ông, En-a-xa con ông, A-xên con ông.
 
44A-xên được sáu người con có tên như sau : Át-ri-cam con đầu lòng, rồi Gít-ma-ên, Sơ-ác-gia, Ô-vát-gia, Kha-nan. Những người đó đều là con ông A-xên.
 
 
101 Người Phi-li-tinh giao chiến với Ít-ra-en. Người Ít-ra-en chạy trốn trước mặt người Phi-li-tinh và bị tử thương ngã gục trên núi Ghin-bô-a. 2 Người Phi-li-tinh bám sát vua Sa-un và các con trai vua ; và chúng giết ông Giô-na-than, ông A-vi-na-đáp và ông Man-ki Su-a, các con vua Sa-un. 3 Áp lực của mặt trận dồn về phía vua Sa-un. Lính bắn cung nhận ra vua. Vua rất run sợ khi thấy lính bắn cung. 4 Vua Sa-un bảo người lính hầu : "Rút gươm ra và đâm ta đi, kẻo bọn không cắt bì ấy đến đâm ta và ngạo ta." Nhưng người lính hầu không dám vì quá sợ. Vua Sa-un mới lấy gươm ra và lao mình vào mũi gươm. 5 Người lính hầu thấy vua đã chết, cũng lao mình vào mũi gươm của anh ta và chết theo vua. 6 Thế là vua Sa-un với ba con trai và mọi người của vua cùng chết một lúc. 7 Người Ít-ra-en ở bên kia thung lũng thấy người Ít-ra-en chạy trốn, và vua Sa-un cùng các con của vua đã chết, thì bỏ các thành của họ và chạy trốn. Người Phi-li-tinh đến và lập cư ở đó.
 
8 Ngày hôm sau người Phi-li-tinh đến lột các xác chết, thì tìm thấy vua Sa-un và các người con trai nằm trên núi Ghin-bô-a. 9 Chúng chặt đầu vua và tước võ khí của vua. Rồi chúng sai người rảo quanh khắp xứ Phi-li-tinh, để báo tin mừng cho các tượng thần của chúng và cho dân. 10Chúng đặt võ khí của vua Sa-un trong đền các thần của chúng, còn sọ của vua thì chúng treo trong đền Đa-gôn.
 
11Khi dân thành Gia-vết miền Ga-la-át nghe biết cách người Phi-li-tinh đã đối xử với vua Sa-un, 12thì tất cả các dũng sĩ lên đường, lấy xác vua Sa-un và xác các con vua đưa về Gia-vết ; họ chôn hài cốt dưới cây tùng tại Gia-vết, rồi ăn chay bảy ngày.
 
13Vua Sa-un chết vì đã thất trung với ĐỨC CHÚA, chẳng tuân giữ lời ĐỨC CHÚA truyền, lại còn kiếm một mụ đồng bóng mà thỉnh vấn nữa. 14Ông đã không thỉnh vấn ĐỨC CHÚA nên Người đã khiến ông phải chết và đã chuyển trao vương quyền cho ông Đa-vít, con ông Gie-sê.
 
 
111 Toàn thể Ít-ra-en tập hợp quanh vua Đa-vít tại Khép-rôn và thưa : "Chúng tôi đây là cốt nhục của ngài ! 2 Ngay cả trước kia, khi ông Sa-un còn làm vua, chính ngài đã chỉ huy các cuộc hành quân của Ít-ra-en. ĐỨC CHÚA, Thiên Chúa của ngài, đã phán với ngài : Chính ngươi sẽ chăn dắt Ít-ra-en dân Ta và ngươi sẽ lãnh đạo Ít-ra-en dân Ta." 3 Toàn thể kỳ mục Ít-ra-en đến gặp vua tại Khép-rôn và vua Đa-vít đã lập giao ước với họ tại Khép-rôn trước nhan ĐỨC CHÚA. Rồi họ xức dầu tấn phong Đa-vít làm vua Ít-ra-en như lời ĐỨC CHÚA đã dùng ông Sa-mu-en mà phán.
 
4 Vua Đa-vít cùng toàn thể Ít-ra-en tiến về Giê-ru-sa-lem - tức là Giơ-vút ; dân bản xứ ở đây là người Giơ-vút. 5 Dân cư Giơ-vút nói với vua Đa-vít : "Ông sẽ không vào đây được." Nhưng vua Đa-vít đã chiếm được đồn luỹ Xi-on, đó là Thành vua Đa-vít. 6 Vua Đa-vít đã nói : "Bất cứ ai là người đầu tiên giết được người Giơ-vút, người ấy sẽ được làm thủ lãnh, làm nguyên soái." Ông Giô-áp con bà Xơ-ru-gia là người đầu tiên đã lên được, nên ông đã trở thành thủ lãnh. 7 Vua Đa-vít đóng tại đồn luỹ đó, nên người ta gọi là Thành vua Đa-vít. 8 Rồi vua xây cất bốn mặt thành, từ công trình Mi-lô cho tới hoàng cung, còn ông Giô-áp thì tu bổ phần còn lại. 9 Vua Đa-vít ngày càng thêm mạnh thế, vì ĐỨC CHÚA các đạo binh ở với vua.
 
10Đây là những người chỉ huy các dũng sĩ của vua Đa-vít, những người đã cùng vua nên mạnh thế trong triều đại của vua, và đã cùng toàn thể Ít-ra-en củng cố vương quyền của vua, như lời ĐỨC CHÚA phán về Ít-ra-en. 11Dưới đây là danh sách các dũng sĩ của vua Đa-vít :
 
Ông Gia-sóp-am, con ông Khác-mô-ni, đứng đầu Bộ Ba. Chính ông là người đã vung đao giết một lúc ba trăm mạng.
 
12Kế đến là ông E-la-da, con ông Đô-đô, người A-khô-ác. Ông là một trong ba dũng sĩ. 13Chính ông đã ở bên vua Đa-vít tại Pát Đam-mim, khi quân Phi-li-tinh tụ tập ở đấy để giao tranh. Đây là một cánh đồng lúa mạch. Dân quân bỏ trốn bọn Phi-li-tinh, 14nhưng các ông đã đứng giữa cánh đồng để bảo vệ thửa đất và đánh giết quân Phi-li-tinh. ĐỨC CHÚA đã thực hiện một cuộc chiến thắng lẫy lừng.
 
15Trong Nhóm Ba Mươi, ba người đã xuống gặp vua Đa-vít tại tảng đá cạnh hang A-đu-lam đang khi có đạo quân Phi-li-tinh đóng tại thung lũng người Ra-pha. 16Bấy giờ vua Đa-vít đang ở nơi ẩn náu và tại Bê-lem bấy giờ có một đồn quân Phi-li-tinh. 17Vua Đa-vít ước ao và nói : "Phải chi có ai cho ta uống nước lấy ở giếng tại cổng thành Bê-lem !" 18Bộ Ba đã đột nhập trại Phi-li-tinh, lấy nước ở giếng tại cổng thành Bê-lem, đưa về cho vua Đa-vít. Vua Đa-vít không muốn uống mà đổ nước ấy làm lễ rưới dâng ĐỨC CHÚA. 19Vua nói : "Xin Thiên Chúa đừng để ta làm điều ấy ! Nỡ nào ta uống máu những người đã liều mạng đưa nước về đây". Vậy vua đã không muốn uống nước. Đó là việc ba dũng sĩ đã làm.
 
20Ông Áp-sai, em ông Giô-áp, là người chỉ huy Nhóm Ba Mươi. Chính ông đã vung giáo đâm chết ba trăm mạng, và được nổi danh trong Nhóm Ba Mươi. 21Ông được vinh dự nhất trong Nhóm Ba Mươi, nên ông được đứng đầu ; nhưng không được vào Bộ Ba.
 
22Ông Bơ-na-gia, con ông Giơ-hô-gia-đa, một con người dũng cảm, nhiều thành tích, xuất thân từ Cáp-xơ-ên. Chính ông đã hạ sát hai anh hùng Mô-áp ; chính ông đã xuống đập chết con sư tử ở trong giếng vào một ngày có tuyết. 23Chính ông đã hạ một tên Ai-cập, thân cao hai thước rưỡi. Tên Ai-cập cầm giáo trong tay như cầm khung cửi của thợ dệt. Ông xuống đánh nó với một cây gậy, cướp giáo khỏi tay tên Ai-cập, và lấy giáo của nó mà giết nó. 24Đó là những việc ông Bơ-na-gia-hu, con ông Giơ-hô-gia-đa đã làm, và ông được nổi danh trong Nhóm Ba Mươi dũng sĩ. 25Ông được vinh dự nhất trong Nhóm Ba Mươi, nhưng không được vào Bộ Ba. Vua Đa-vít đặt ông trông coi đội cận vệ của vua.
 
26Các anh hùng dũng sĩ là : A-xa-hên, em của Giô-áp, En-kha-nan, con của Đô-đô, người Bê-lem, 27Sam-mốt người Ha-ra, Khe-lét người Pơ-lô-ni, 28I-ra con của Ích-kết người Tơ-cô-a, A-vi-e-de người A-na-thốt, 29Xíp-bơ-khai người Khu-sa, I-lai người A-khô-ác, 30Ma-rai người Nơ-tô-pha, Khê-lét, con của Ba-a-na người Nơ-tô-pha, 31I-thai, con của Ri-vai người Ghíp-a, là con cháu Ben-gia-min, Bơ-na-gia người Pia-a-thôn, 32Khu-rai quê ở Khe suối Ga-át, A-vi-ên người A-ra-va, 33Át-ma-vét người Ba-khu-rim, En-giác-ba người Sa-an-vôn, 34Bơ-nê Ha-sêm người Ghi-dô, Giô-na-than, con của Sa-ghê người Ha-ra, 35A-khi-am, con của Xa-kha người Ha-ra, Ê-li-phan con của Ua, 36Khê-phe người Mơ-khê-ra, A-khi-gia người Pơ-lô-ni, 37Khét-rô người Các-men, Na-a-rai con của Ét-bai, 38Giô-en em của Na-than, Míp-kha con của Hắc-ri, 39Xe-léc người Am-mon, Nác-rai người Bơ-ê-rốt, cận vệ của ông Giô-áp con bà Xơ-ru-gia, 40ông I-ra người Gít-ri, Ga-rếp người Gít-ri, 41U-ri-gia người Khết, Da-vát con của Ác-lai, 42A-đi-na con của Si-da thuộc chi tộc Rưu-vên, đứng đầu con cháu Rưu-vên, chỉ huy Nhóm Ba Mươi, 43Kha-nan con của Ma-a-kha, Giô-sa-phát người Me-then, 44Út-di-gia người Át-ta-rốt, Sa-ma và Giơ-u-ên con của Khô-tam người A-rô-e, 45Giơ-đi-a-ên con của Sim-ri và em là Giô-kha người Tít, 46Ê-li-ên người Ma-kha-vim, Giơ-ri-vai và Giô-sau-gia con của En-na-am, Gít-ma người Mô-áp, 47Ê-li-ên, Ô-vết và Gia-a-xi-ên người Xô-va.
 
 
121 Đây là những người đã tìm đến với ông Đa-vít tại Xích-lắc khi ông còn buộc phải sống xa vua Sa-un, con ông Kít. Họ thuộc số những anh hùng đã từng tham chiến, 2 biết bắn cung cả tay phải lẫn tay trái, dùng đá hay dùng tên cũng được.
 
Trong các anh em của vua Sa-un người Ben-gia-min, 3 đứng đầu là A-khi-e-de, rồi Giô-át con của Sơ-ma-a người Ghíp-a, Giơ-di-ên và Pe-lét con của Át-ma-vét, Bơ-ra-kha, Giê-hu người A-na-thốt, 4 Gít-ma-gia người Ghíp-ôn, anh hùng trong nhóm Ba Mươi và chỉ huy nhóm này ; 5 Giếc-mơ-gia, Gia-kha-di-ên, Giô-kha-nan, Giô-da-vát người Gơ-đê-ra, 6 En-u-dai, Giơ-ri-mốt, Bơ-an-gia, Sơ-mác-gia-hu, Sơ-phát-gia-hu người Kha-ríp, 7 En-ca-na, Gít-si-gia-hu, A-dác-ên, Giô-e-de, Gia-sóp-am, con cháu của Cô-rắc, 8 Giô-ê-la và Dơ-vát-gia con của Giơ-rô-kham người Gơ-đo.
 
9 Trong hàng con cháu ông Gát, một số người ly khai đi theo vua Đa-vít vào mật khu trong sa mạc. Họ là những anh hùng dũng sĩ, những người thiện chiến, sử dụng thành thạo khiên thuẫn và giáo mác, tướng mạo như sư tử, lanh lẹ như linh dương trên núi. 10Đứng đầu là Ê-de, thứ đến là Ô-vát-gia, thứ ba là Ê-li-áp, 11thứ tư là Mít-man-na, thứ năm là Giếc-mơ-gia, 12thứ sáu là Át-tai, thứ bảy là Ê-li-ên, 13thứ tám là Giô-kha-nan, thứ chín là En-da-bát, 14thứ mười là Giếc-mơ-gia-hu, thứ mười một là Mác-ban-nai. 15Đó là những người thuộc hàng con cháu ông Gát, các vị chỉ huy quân đội, người kém thì một mình cũng đánh nổi trăm quân, người giỏi thì một ngàn. 16Họ là những người đã vượt sông Gio-đan vào tháng đầu, khi nước sông tràn ra hai bên bờ ; họ đã đánh đuổi tất cả những dân cư sống trong các thung lũng, phía đông cũng như phía tây.
 
17Trong hàng con cháu Ben-gia-min và Giu-đa cũng có những người vào mật khu với ông Đa-vít. 18Ông ra gặp và ngỏ lời với họ : "Nếu vì hiếu hoà mà các anh đến trợ lực cho tôi, tôi sẽ một lòng sống chết với các anh ; còn nếu các anh manh tâm phản tôi để nộp cho địch, dù tay này không làm gì đáng trách, thì xin Thiên Chúa của cha ông chúng ta chứng giám và xét xử công minh ! "
 
19Bấy giờ thần khí tràn ngập ông A-ma-xai, người đứng đầu nhóm Ba Mươi, khiến ông nói :
            "Chúng tôi là người của ngài, thưa ngài Đa-vít !
            Nguyện sống chết với ngài, thưa quý tử ông Gie-sê.
            Khang an ! Chúc ngài khang an !
            Chúc kẻ trợ giúp ngài khang an !
            Vì Thiên Chúa của ngài phù trợ ngài !"
Ông Đa-vít kết nạp và đặt họ vào cấp chỉ huy quân đội.
 
20Từ Mơ-na-se cũng có những người quy thuận ông Đa-vít khi ông cùng với quân Phi-li-tinh đánh vua Sa-un, nhưng thật ra ông không tiếp tay cho họ, vì các vương công Phi-li-tinh tính chuyện thải hồi ông, đã bàn với nhau rằng : "Biết đâu hắn sẽ lấy đầu chúng ta đem về quy thuận Sa-un chủ hắn !" 21Vậy khi ông lui về Xích-lắc thì có những người thuộc chi tộc Mơ-na-se đào ngũ đến với ông, đó là : Át-nác, Giô-da-vát, Giơ-đi-a-ên, Mi-kha-ên, Giô-da-vát, Ê-li-hu, Xi-lơ-thai, là những người chỉ huy đơn vị ngàn quân Mơ-na-se. 22Những người này quả đã tăng cường cho ông Đa-vít và quân đội của ông, vì tất cả đều là những anh hùng dũng sĩ và đã trở thành các tướng lãnh trong quân đội.
 
23Thật ra ngày nào cũng có người đến tăng viện cho ông Đa-vít, làm cho lực lượng của ông trở nên lớn mạnh như một lực lượng thần thánh. Các chiến sĩ đã tôn vương ông Đa-vít
 
24Đây là nhân số những lực lượng võ trang sẵn sàng chiến đấu để đến với ông Đa-vít tại Khép-rôn để chuyển giao cho ông vương quyền của vua Sa-un theo lệnh ĐỨC CHÚA đã truyền :
 
25Con cháu Giu-đa mang khiên cầm giáo : sáu ngàn tám trăm quân võ trang sẵn sàng chiến đấu ;
 
26trong số con cháu Si-mê-ôn : bảy ngàn một trăm anh hùng dũng sĩ sẵn sàng chiến đấu ;
 
27trong số con cháu Lê-vi : bốn ngàn sáu trăm quân ; 28ông Giơ-hô-gia-đa, thủ lãnh nhà A-ha-ron, và cùng với ông : ba ngàn bảy trăm quân ; 29ông Xa-đốc, một anh hùng dũng sĩ trẻ trung, và gia tộc ông : hai mươi hai người chỉ huy ;
 
30trong số con cháu Ben-gia-min, anh em vua với vua Sa-un : ba ngàn quân, cho đến bấy giờ đa số những người ấy vẫn chu toàn nhiệm vụ đối với nhà Sa-un ;
 
31trong số con cháu Ép-ra-im : hai mươi ngàn tám trăm anh hùng dũng sĩ, những người lừng danh trong gia tộc mình ;
 
32trong phân nửa chi tộc Mơ-na-se : mười tám ngàn quân được chỉ định đích danh để tới phong vương cho ông Đa-vít ;
 
33trong số con cháu ông Ít-xa-kha am hiểu thời cuộc để biết Ít-ra-en phải làm gì : hai trăm thủ lãnh và tất cả anh em đồng tộc dưới quyền họ ;
 
34trong chi tộc Dơ-vu-lun : năm mươi ngàn chiến binh sẵn sàng lâm trận, biết sử dụng mọi thứ vũ khí và dũng cảm chiến đấu, không sờn lòng ;
 
35trong chi tộc Náp-ta-li : một ngàn chỉ huy và cùng với họ ba mươi bảy ngàn người mang khiên cầm giáo ;
 
36trong số người thuộc tộc Đan : hai mươi tám ngàn sáu trăm quân sẵn sàng lâm trận ; 37trong chi tộc A-se : bốn mươi ngàn chiến binh sẵn sàng lâm trận ;
 
38từ bên kia sông Gio-đan, trong số người thuộc chi tộc Rưu-vên, chi tộc Gát và một nửa chi tộc Ma-nơ-se : một trăm hai mươi tám ngàn chiến binh biết sử dụng mọi thứ vũ khí.
 
39Tất cả những người ấy đều là quân thiện chiến, sẵn sàng chiến đấu trong hàng ngũ một cách dũng cảm ; họ đến Khép-rôn với tấm lòng trung nghĩa để tôn ông Đa-vít làm vua cai trị toàn thể Ít-ra-en ; tất cả phần còn lại của Ít-ra-en cũng một lòng như vậy. 40Họ ở lại đó ba ngày, cùng ăn uống với vua Đa-vít.
 
Anh em họ quả đã chuẩn bị cho họ tất cả ; 41từ những người ở gần đó đến những kẻ ở mãi Ít-xa-kha, Dơ-vu-lun và Náp-ta-li cũng chở lương thực về bằng lừa, lạc đà, la, bò : nào bột, nào bánh vã sấy, rồi nho khô, rượu, dầu, bò, chiên, nhiều vô kể. Cả Ít-ra-en liên hoan tưng bừng.
 
 
131 Vua Đa-vít bàn với các chỉ huy trưởng đơn vị ngàn quân và trăm quân, cũng như với tất cả các người lãnh đạo. 2 Vua nói với toàn thể cộng đồng Ít-ra-en : "Nếu các ngươi thấy thế là được và nếu đó là ý định của ĐỨC CHÚA, Thiên Chúa chúng ta, thì chúng ta sẽ sai người đi mời các anh em khác của chúng ta từ khắp các miền đất Ít-ra-en, mời các tư tế, các thầy Lê-vi sống tại các thành có đồng cỏ chung quanh, cùng tập hợp lại với chúng ta. 3 Chúng ta sẽ đưa Hòm Bia Thiên Chúa về với chúng ta, vì thời vua Sa-un, quả chúng ta đã không quan tâm tới điều đó."
 
4 Tất cả cộng đồng quyết định thi hành như vậy, vì toàn dân thấy thế là phải. 5 Vậy vua Đa-vít triệu tập toàn dân Ít-ra-en, từ Si-kho bên Ai-cập đến Cửa Ải Kha-mát, để cung nghinh Hòm Bia Thiên Chúa từ Kia-giát Giơ-a-rim về. 6 Vua Đa-vít cùng toàn thể Ít-ra-en lên Ba-a-la ở Kia-giát Giơ-a-rim thuộc Giu-đa, để từ đó đưa Hòm Bia Thiên Chúa lên, Hòm Bia mang tên ĐỨC CHÚA ngự trên các Kê-ru-bim. 7 Họ đem Hòm Bia Thiên Chúa từ nhà ông A-vi-na-đáp đặt lên một cỗ xe mới, rồi ông Út-da và ông Ác-giô đánh xe đi. 8 Còn vua Đa-vít và toàn thể Ít-ra-en thì nhảy múa trước mặt Thiên Chúa giữa tiếng ca, tiếng đàn sắt, đàn cầm, tiếng trống, não bạt và tiếng kèn. 9 Khi họ vào tới sân lúa Ki-đôn, ông Út-da giơ tay giữ lấy Hòm Bia vì con bò làm cho Hòm Bia muốn đổ. 10ĐỨC CHÚA liền nổi cơn thịnh nộ với ông Út-da ; Người đánh phạt ông vì ông đã giơ tay đụng tới Hòm Bia ; ông chết ngay tại đó trước mặt Thiên Chúa. 11Vua Đa-vít buồn bực vì ĐỨC CHÚA đã đánh ông Út-da chết tức khắc như vậy, và người ta gọi nơi ấy là Pe-rét Út-da cho tới ngày nay.
 
12Hôm ấy vua Đa-vít sợ Thiên Chúa. Vua nói : "Làm sao tôi đưa Hòm Bia Thiên Chúa về nhà tôi được ?" 13Và vua Đa-vít đã không cung nghinh Hòm Bia về nhà mình trên Thành vua Đa-vít nữa, nhưng đưa Hòm Bia rẽ vào nhà ông Ô-vết Ê-đôm người Gát. 14Hòm Bia Thiên Chúa ở lại với gia đình ông Ô-vết Ê-đôm ngay tại nhà ông ba tháng ; ĐỨC CHÚA giáng phúc cho nhà ông Ô-vết Ê-đôm cùng tất cả những gì thuộc về ông.
 
 
141 Khi-ram, vua thành Tia, sai sứ giả đến yết kiến vua Đa-vít, mang theo gỗ bá hương, thợ nề, thợ mộc để xây cho vua một cung điện. 2 Vua biết rằng ĐỨC CHÚA đã củng cố vương quyền của vua trên Ít-ra-en và nhờ Ít-ra-en là dân của vua mà vương quốc của vua được hưng thịnh.
 
3 Tại Giê-ru-sa-lem, vua Đa-vít lấy thêm vợ, sinh thêm con trai con gái. 4 Đây là tên những người con vua đã sinh tại Giê-ru-sa-lem : Sam-mu-a, Sô-váp, Na-than, Sa-lô-môn, 5 Gíp-kha, Ê-li-su-a, En-pa-lét, 6 Nô-ga, Ne-phéc, Gia-phia, 7 Ê-li-sa-ma, Bơ-en-gia-đa, Ê-li-phe-lét.
 
8 Khi quân Phi-li-tinh nghe tin vua Đa-vít đã được xức dầu làm vua toàn thể Ít-ra-en, thì toàn thể quân Phi-li-tinh lên tìm bắt vua Đa-vít. Vua Đa-vít nghe tin liền ra đón chúng. 9 Quân Phi-li-tinh đến dàn trận trong thung lũng người Ra-pha. 10Bấy giờ vua Đa-vít thỉnh ý Thiên Chúa : "Con có nên tiến đánh quân Phi-li-tinh không ? Ngài có trao chúng vào tay con không ?" ĐỨC CHÚA trả lời vua : "Cứ lên ! Ta sẽ trao chúng vào tay ngươi." 11Chúng kéo lên Ba-an Pơ-ra-xim, và vua Đa-vít đã đánh bại chúng tại đó. Vua Đa-vít nói : "Thiên Chúa đã dùng tay tôi mà chọc thủng quân thù của tôi như chỗ bị nước chọc thủng." Vì thế, người ta đặt tên cho nơi ấy là Ba-an Pơ-ra-xim. 12Chúng đã bỏ lại đó các thần của chúng, và vua Đa-vít nói : "Cho vào lửa đốt hết !"
 
13Quân Phi-li-tinh lại dàn trận trong thung lũng. 14Một lần nữa, vua Đa-vít thỉnh ý Thiên Chúa và Thiên Chúa phán bảo vua : "Đứng lên đuổi theo chúng, nhưng hãy đi vòng, cách xa chúng một quãng và tấn công chúng từ phía lùm cây sếu. 15Khi nào ngươi nghe tiếng chân bước trên ngọn các cây sếu, bấy giờ ngươi hãy ra mà tấn công : vì Thiên Chúa sẽ ra trận trước mặt ngươi để đánh quân đội Phi-li-tinh." 16Vua Đa-vít làm như Thiên Chúa đã truyền cho vua và vua đã đánh bại quân đội Phi-li-tinh từ Ghíp-ôn tới Ghe-de.

17Danh tiếng vua Đa-vít đồn ra khắp nơi và ĐỨC CHÚA làm cho chư dân phải khiếp sợ vua. 


Copyright © 2011 Cursillo Online. All rights reserved.