slideshow 1 slideshow 2 slideshow 3 slideshow 4

You are here

“Lời chứng” và “làm chứng” của Gio-an Tẩy Giả trong Tin Mừng Gio-an

 
 
Bài viết tiếng Pháp:
 
Ngày 24 tháng 06 năm 2014.
 
Nội dung
 
I. Dẫn nhập
II. Lời chứng của Gio-an Tẩy Giả (1,7.19; x. 5,36)
III. Gio-an Tẩy Giả làm chứng về ai và về điều gì?
   1. Gio-an làm chứng về mình
   2. Gio-an làm chứng về Đức Giê-su ở 1,19-37
   3. Gio-an làm chứng về Đức Giê-su ở 3,31-36
IV. Đức Giê-su nhắc lại lời chứng của Gio-an (5,33)
V. Kết luận
 
 

I. Dẫn nhập
 
Bài viết này đã đăng ngày 09/10/2013 trên Blog http://leminhthongtinmunggioan.blogspot.com/ với tựa đề: “‘Lời chứng’ và ‘làm chứng’ của Gio-an Tẩy Giả trong Tin Mừng Gio-an.” Nhân dịp viết bài này bằng tiếng Pháp: “‘Le témoignage’ et ‘témoigner’ de Jean Baptiste dans l’Évangile de Jean”, bài tiếng Việt được trình bày lại và đề ngày mới.
 
Trong bài viết “Lời chứng” (marturia) và “làm chứng” (martureô) trong Tin Mừng Gio-an” đã liệt kê số lần xuất hiện và cách dùng danh từ “lời chứng” (marturia) và động từ “làm chứng” (martureô). Bài viết này tập trung vào “lời chứng” và “làm chứng” của Gio-an Tẩy Giả. Tin Mừng Gio-an nói đến 2 lần danh từ “lời chứng” của Gio-an Tẩy Giả ở 1,7.19 và 7 lần động từ “làm chứng” ở 1,7.8.15.32.34; 3,26; 5,33, đề tài này được trình bày ba mục: (1) Lời chứng của Gio-an Tẩy Giả (1,7.19; x. 5,36); (2) Gio-an Tẩy Giả làm chứng về ai và về điều gì? (3) Đức Giê-su nhắc lại lời chứng của Gio-an (5,33).
 
II. Lời chứng của Gio-an Tẩy Giả (1,7.19; x. 5,36)
 
Trong Tin Mừng Gio-an có 2 lần nói về “lời chứng” (marturia) của Gio-an Tẩy Giả ở 1,7.19:
 
(1) Lần thứ nhất trong lời tựa Tin Mừng (1,1-18) khi tác giả long trọng giới thiệu Gio-an Tẩy Giả ở 1,6-8: “6 Có một người được sai đến từ Thiên Chúa, tên ông là Gio-an. 7 Ông ấy đến làm chứng. Ông làm chứng về ánh sáng, để mọi người tin nhờ ông ấy. 8 Ông ấy không phải là ánh sáng, nhưng làm chứng về ánh sáng.” (Các trích dẫn Tin Mừng lấy trong: Bản văn Gio-an, Tin Mừng và ba thư, Hy Lạp – Việt). Danh từ “lời chứng” xuất hiện ở 1,7a: “Ông ấy đến làm chứng”, dịch sát: “Ông ấy đến vì (cho) lời chứng (houtos êlthen eis marturian)”, (“he came for testimony”).
 
(2) Lần thứ 2, “lời chứng” (marturia) của Gio-an xuất hiện sau khi kết thúc lời tựa thần học Tin Mừng (1,1-18). Người thuật chuyện mở đầu phần lời chứng của Gio-an ở 1,19: “Và đây là lời chứng của Gio-an…” (1,19a). Lời chứng của Gio-an được trình bày trong bối cảnh: “Những người Do Thái từ Giê-ru-sa-lem cử các tư tế và các Lê-vi đến [với ông ấy] để họ hỏi ông ấy: ‘Ông là ai?’” (1,19b).
 
Đến 5,33-36, Đức Giê-su gián tiếp nhắc lại “lời chứng” của Gio-an trong bối cảnh tranh luận với những người Do Thái. Gọi là “nhắc lại gián tiếp” vì ở 5,33-36, Đức Giê-su không trực tiếp dùng danh từ “lời chứng” để nói về “lời chứng của Gio-an”. Người nói với những người Do Thái ở 5,36: “Nhưng Tôi, Tôi có lời chứng lớn hơn (lời chứng) của Gio-an (Egô de ekhô tên marturian meizô tou Iôannou), đó là những việc mà Cha đã ban cho Tôi để Tôi hoàn thành chúng.”  Từ “lời chứng” (của Gio-an) được hiểu ngầm (sous entendu) trong mạch văn 5,36a. Nội dung “lời chứng” (marturia) của Gio-an được triển khai trong mạch văn cùng với động từ “làm chứng” (martureô) sẽ được phân tích sau đây.
 
III. Gio-an Tẩy Giả làm chứng về ai và về điều gì?
 
Trước khi làm chứng về Đức Giê-su, Gio-an Tẩy Giả làm chứng về mình để mọi người biết ông là ai và đến để làm gì. Phần sau sẽ bàn về (1) Gio-an làm chứng về mình và (2) Gio-an làm chứng về Đức Giê-su (1,19-37).
 
   1. Gio-an làm chứng về mình
 
Khởi đầu sứ vụ, Gio-an làm chứng bằng cách nói không về mình(1,20.21a.21b), sau đó ông xác định rõ vai trò của ông. Lời chứng của Gio-an về mình được tóm kết qua ba điểm sau:
 
      (1) Gio-an không phải là Đấng Ki-tô (1,20), không phải là Ê-li-a (1,21a), không phải là vị ngôn sứ (1,21b). Sau lời tựa sách Tin Mừng (1,1-18), người thuật chuyện mở đầu đoạn văn về lời chứng của Gio-an ở 1,19: “Và đây là lời chứng của Gio-an, khi những người Do Thái từ Giê-ru-sa-lem cử các tư tế và các Lê-vi đến [với ông ấy] để họ hỏi ông ấy: ‘Ông là ai?’” Gio-an đã tuyên xưng về ông với ba lần phủ định trong đối thoại ở 1,21-22: “20 Ông ấy (Gio-an Tẩy Giả) tuyên xưng chứ không chối, Ông ấy tuyên xưng rằng: ‘Chính tôi không phải là Đấng Ki-tô.’ 21 Họ hỏi ông ấy: ‘Vậy thì sao?Ông là Ê-li-a phải không?’ Ông ấy nói: ‘Không phải tôi.’ – ‘Ông có phải là vị ngôn sứ chăng?’ Ông ấy đáp: ‘Không.’” Xem bài viết: “Ở Ga 1,21 Gio-an Tẩy Giả không phải là Ê-li-a, nhưng ở Mt 17,13 Gio-an là Ê-li-a, mâu thuẫn hay bổ sung lẫn nhau?
 
      (2) Gio-an là “tiếng kêu trong hoang mạc” như ông khẳng định với những người chất vấn ông ở 1,23: “Tôi là tiếng kêu trong hoang mạc, hãy làm cho thẳng con đường của Chúa, như ngôn sứ I-sai-a đã nói.” Tiếng kêu đó là lời mời gọi “làm cho thẳng con đường của Chúa”, như ngôn sứ I-sai-a đã viết ở Is 40,3-5: “3 Có tiếng hô: Trong sa mạc, hãy mở một con đường cho ĐỨC CHÚA, giữa đồng hoang, hãy vạch một con lộ thẳng băng cho Thiên Chúa chúng ta. 4 Mọi thung lũng sẽ được lấp đầy, mọi núi đồi sẽ phải bạt xuống, nơi lồi lõm sẽ hoá thành đồng bằng, chốn gồ ghề nên vùng đất phẳng phiu. 5 Bấy giờ vinh quang ĐỨC CHÚA sẽ tỏ hiện, và mọi người phàm sẽ cùng được thấy rằng miệng ĐỨC CHÚA đã tuyên phán.” (Trích dẫn lấy trong bản dịch: Kinh Thánh, ấn bản 2011 của Nhóm PD/CGKPV). Trong bối cảnh này, Gio-an Tẩy Giả xuất hiện như là người làm phép rửa sám hối để mọi người có thể đón nhận Đức Giê-su và tin vào Người.
 
      (3) Gio-an khẳng định ông là người “làm phép rửa trong nước”. Điều này được Gio-an nói đến 3 lần (1,26.31.33a) nhằm phân biệt rõ ràng với “Đấng làm phép rửa trong Thánh Thần” là Đức Giê-su (1,33b). Với hai lần từ “hôm sau” (epaurion) ở 1,29.35, phần lời chứng của Gio-an (1,19-37) diễn ra trong ba ngày: (1) 1,19-28; (2) 1,29-34; (3) 1,35-37. Trong ngày thứ nhất (1,19-28) Gio-an nói với những người chất vấn ông ở 1,26-27: “26 Chính tôi làm phép rửa trong nước. Người đang đứng giữa các ông mà các ông không biết, 27 Người đến sau tôi và [chính tôi] không xứng đáng cởi quai dép của Người.” Trong ngày làm chứng thứ hai (1,29-34), Gio-an nói với mọi người ở 1,31: “Phần tôi, tôi đã không biết Người [Đức Giê-su], nhưng để Người được tỏ ra cho Ít-ra-en, vì điều này, chính tôi đến làm phép rửa trong nước.” Sau đó Gio-an nói tiếp ở 1,33: “Phần tôi, tôi đã không biết Người. Nhưng Đấng sai tôi làm phép rửa trong nước, Đấng ấy đã nói với tôi: ‘Ngươi thấy Thần Khí xuống và ở lại trên ai, thì người đó là Đấng làm phép rửa trong Thánh Thần.’”
 
   2. Gio-an làm chứng về Đức Giê-su ở 1,19-37
 
Như tác giả Tin Mừng cho biết, Gio-an đến để làm chứng (1,6-8). Nội dung lời chứng của Gio-an trong Ga 1 có thể tóm tắt trong 8 điều sau:
 
      (1) Gio-an Làm chứng về ánh sáng, hai lần người thuật chuyện khẳng định điều này ở 1,7.8. “Ánh sáng” ở đây được đồng hoá với “Lời” (Logos) (1,4-5), với chính Đức Giê-su như Người khẳng định ở 8,12; 9,5. Đức Giê-su nói với những kẻ chống đối ở 8,12: “Chính Tôi là ánh sáng của thế gian. Người theo Tôi, chắc chắn sẽ không bước đi trong bóng tối, nhưng sẽ có ánh sáng của sự sống.” Đến 9,5, Đức Giê-su nói với các môn đệ: “Bao lâu Thầy còn ở trong thế gian, Thầy là ánh sáng của thế gian.” Như thế, Đức Giê-su chính là ánh sáng được nói đến trong lời tựa Tin Mừng (1,4-9). Lời chứng của Gio-an Tẩy Giả về ánh sáng là lời chứng về Đức Giê-su.
 
      (2) Gio-an Tẩy Giả làm chứng rằng Đức Giê-su đến sau, nhưng vượt trước, và có trước Gio-an (1,15; 1,27.30). Người thuật chuyện kể ở 1,15: “Gio-an làm chứng về Người [Đức Giê-su], ông ấy hô lên rằng: ‘Đây là Đấng mà tôi đã nói: Người đến sau tôi, nhưng vượt trước tôi, vì Người có trước tôi.’” Gio-an Tẩy Giả còn nói về điều này hai lần nữa ở 1,27.30. Trong ngày làm chứng thứ nhất (1,19-28), Gio-an nói với những người thuộc nhóm Pha-ri-sêu: “Người (Đức Giê-su) đến sau tôi và [chính tôi] không xứng đáng cởi quai dép của Người” (1,27). Trong ngày làm chứng thứ hai (1,29-34), Gio-an giới thiệu Đức Giê-su với mọi người rằng: “Chính Người là Đấng mà tôi đã nói: ‘Người đến sau tôi, nhưng trổi vượt trước tôi, vì Người có trước tôi’” (1,30). Xem ý nghĩa lời chứng này trong bài viết: “Ga 1,6-8.19-28: Làm chứng và giới thiệu Đức Giê-su.
 
      (3) Gio-an làm chứng Đức Giê-su là người ở giữa những người được sai tới với Gio-an (các tư tế và các Lê-vi), nhưng họ không biết Đức Giê-su. Gio-an nói với họ điều này ở 1,26-27: “26 Chính tôi làm phép rửa trong nước. Người (Đức Giê-su) đang đứng giữa các ông mà các ông không biết, 27 Người đến sau tôi và [chính tôi] không xứng đáng cởi quai dép của Người.” Qua lời chứng này, có thể nói khi Đức Giê-su bắt đầu xuất hiện hoạt động công khai, giới lãnh đạo Do Thái không biết đến Đức Giê-su. Cụ thể là Na-tha-na-en, người mà Đức Giê-su gọi là “người Ít-ra-en, nơi ông ấy không có gian dối” (1,47), ông không biết Đức Giê-su là ai trước khi gặp Người. Thật vậy, người thuật chuyện kể về đối thoại giữa Phi-líp-phê và Na-tha-na-en ở 1,45-46: “45 Phi-líp-phê gặp Na-tha-na-en và nói với ông ấy: ‘Đấng mà Mô-sê trong sách Luật và các ngôn sứ đã viết, chúng tôi đã gặp, đó là Đức Giê-su, con ông Giu-se, người Na-da-rét.’ 46 Na-tha-na-en nói với ông ấy: ‘Từ Na-da-rét, có thể có gì tốt?’ Phi-líp-phê nói: ‘Hãy đến và hãy xem.’” Xem ra không ai biết về Đức Giê-su trước khi Người xuất hiện thi hành sứ vụ công khai.
 
      (4) Gio-an làm chứng 2 lần (1,29.36) rằng Đức Giê-su là Chiên Thiên Chúa. Vào ngày làm chứng thứ hai (1,29-34), người thuật chuyện kể ở 1,29: “Hôm sau, ông ấy (Gio-an) thấy Đức Giê-su tiến về phía mình, ông ấy nói: ‘Đây là Chiên của Thiên Chúa, Đấng xoá bỏ tội thế gian.’” Gio-an nhắc lại tước hiệu “Chiên Thiên Chúa” trong ngày làm chứng thứ ba ở 1,35-37: “35 Hôm sau, Gio-an lại đứng với hai người trong các môn đệ của ông ấy. 36 Và chăm chú nhìn Đức Giê-su đang đi qua, ông ấy nói: ‘Đây là Chiên của Thiên Chúa.’ 37 Hai môn đệ của ông ấy nghe nói thế, họ đi theo Đức Giê-su.” Đây là lời chứng cuối cùng của Gio-an Tẩy Giả về Đức Giê-su, vì đoạn văn tiếp theo (1,38-51) nói về các môn đệ đầu tiên của Đức Giê-su. Đức Giê-su lên tiếng lần đầu tiên trong Tin Mừng Gio-an ở 1,38b khi Người nói với hai môn đệ của Gio-an: “Các anh tìm gì?” (1,38b).
 
      (5) Gio-an làm chứng là Thần Khí tựa chim bồ câu từ trời ngự xuống và ở lại trên Đức Giê-su. Người thuật chuyện kể ở 1,32: “Gio-an làm chứng và nói rằng: ‘Tôi đã thấy Thần Khí tựa chim bồ câu từ trời ngự xuống và ở lại trên Người.’” Trong câu này, động từ “làm chứng” xác định nội dung lời chứng của Gio-an. Ngay lúc khởi đầu sứ vụ công khai, “Thần Khí” (pneuma) đã “xuống” (katabainô) và “ở lại” (menô) trên Đức Giê-su (1,32). Ý tưởng này được Gio-an nhấn mạnh trong câu tiếp theo 1,33b: “Đấng ấy đã nói với tôi: ‘Ngươi thấy Thần Khí xuống và ở lại trên ai, thì người đó là Đấng làm phép rửa trong Thánh Thần.’”
 
      (6) Gio-an làm chứng rằng Đức Giê-su là Đấng làm phép rửa trong Thánh Thần. Trong ngày làm chứng thứ hai (1,29-34) và tiếp theo lời chứng trên đây (1,32), Gio-an làm chứng về Đức Giê-su ở 1,33: “Phần tôi, tôi đã không biết Người. Nhưng Đấng sai tôi làm phép rửa trong nước, Đấng ấy đã nói với tôi: ‘Ngươi thấy Thần Khí xuống và ở lại trên ai, thì người đó là Đấng làm phép rửa trong Thánh Thần.’” Như thế, Đức Giê-su là “Đấng làm phép rửa trong Thánh Thần” (1,33b), phân biệt với Gio-an Tẩy Giả là người “làm phép rửa trong nước” (1,26.31.33a).
 
      (7) Gio-an Tẩy Giả làm chứng rằng Đức Giê-su là Con Thiên Chúa. Phần cuối lời chứng của Gio-an trong ngày thứ hai (1,29-34), ông làm chứng về một trong những tước hiệu quan trọng của Đức Giê-su qua hai động từ “thấy” (horaô) và “làm chứng (martureô). Gio-an tuyên bố ở 1,34: “Phần tôi, tôi đã thấy và đã làm chứng rằng: Chính Người là Con Thiên Chúa.” Ở đây, không phải người thuật chuyện nói về lời chứng của Gio-an mà chính Gio-an tuyên bố như là ngừơi chứng kiến và làm chứng: “Tôi đã thấy và đã làm chứng rằng:…”  (1,34a).
 
      (8) Điều lạ lùng là Gio-an làm chứng về Đức Giê-su nhưng ông lại khẳng định là “không biết” Đức Giê-su. Gio-an nói 2 lần về điều này ở 1,31.33. Lần thứ nhất ở 1,31, Gio-an nói: “Phần tôi, tôi đã không biết Người, nhưng để Người được tỏ ra cho Ít-ra-en, vì điều này, chính tôi đến làm phép rửa trong nước.” Lần thứ hai ở 1,33, Gio-an nói: “Phần tôi, tôi đã không biết Người. Nhưng Đấng sai tôi làm phép rửa trong nước, Đấng ấy đã nói với tôi: ‘Ngươi thấy Thần Khí xuống và ở lại trên ai, thì người đó là Đấng làm phép rửa trong Thánh Thần.’” Có thể giải thích việc Gio-an không biết Đức Giê-su như sau: không biết nhưng vẫn làm chứng vì nội dung lời chứng của Gio-an về Đức Giê-su được Thiên Chúa mặc khải cho ông biết. Thiên Chúa là “Đấng sai Gio-an làm phép rửa trong nước” (1,33b).Trong lời tựa sách Tin Mừng (1,1-18) tác giả Tin Mừng khẳng định Thiên Chúa là Đấng sai Gio-an đến làm chứng (1,6). Như thế vai trò của Gio-an là làm chứng về những gì Thiên Chúa đã mặc khải cho ông biết.
 
Hơn nữa, khẳng định của Gio-an: “Tôi đã không biết Người” (1,31.33) cũng là cách thức Gio-an đề cao nguồn gốc huyền nhiệm của Đức Giê-su. Gio-an là người phàm làm sao biết được Đức Giê-su là “Con Thiên Chúa” (1,34), là “Chiên Thiên Chúa” (1,29a.36), là “Đấng xoá bỏ tội thế gian” (1,29b)? Tuy vậy, các lời chứng của Gio-an trên đây là xác thực và rất đáng tin cậy, bởi vì Gio-an làm chứng về Đức Giê-su theo những gì Thiên Chúa đã mặc khải cho ông.
 
   3. Gio-an làm chứng về Đức Giê-su ở 3,31-36
 
Trong cuộc đối thoại giữa Gio-an và các môn đệ của ông ấy ở 3,26-30, các môn đệ của Gio-an nhắc lại việc Gio-an làm chứng về Đức Giê-su. Họ nói với Gio-an ở 3,26: “Thưa Ráp-bi, người (Jésus) đã ở với thầy bên kia Gio-đan, người mà chính thầy đã làm chứng, xem kìa, Ông ấy làm phép rửa, và mọi người đến với Ông ấy.” Để trả lời các môn đệ của mình, Gio-an tự so sánh mình với Đức Giê-su về ba điều: (1) Gio-an không phải là Đấng Ki-tô mà là người được sai đi trước Đấng ấy (3,28b). (2) Ai có cô dâu mới là chú rể, còn Gio-an là bạn của chú rể, là người hớn hở vui mừng vì tiếng nói của chú rể (3,29a), (3) Theo Gio-an “Đấng ấy (Đức Giê-su) phải lớn lên, còn thầy phải suy giảm” (3,30).
 
Trong mạch văn 3,26-36, đoạn văn 3,31-36 là lời chứng của Gio-an về Đức Giê-su. Vì đoạn văn này có nhiều liên hệ với lời chứng của Đức Giê-su ở 3,13-21, nên có tác giả cho rằng đoạn văn 3,31-36 là phần thứ hai của lời chứng của Đức Giê-su ở 3,13-21. Tuy nhiên, trong tình trạng hiện tại của bản văn, “lời chứng của Đức Giê-su” (3,13-21) được đặt song song với “lời chứng của Gio-an” (3,31-36) và cả hai lời chứng đều nói về sứ vụ của Đức Giê-su trong tương quan với Thiên Chúa. Thật vậy, với tư cách là người được Thiên Chúa sai đến làm chứng về Đức Giê-su (1,6-7), Gio-an có đầy đủ tư cách và thẩm quyền để làm chứng về Đức Giê-su như trình bày ở 3,31-36: “31 Đấng đến từ trên thì ở trên tất cả; kẻ bởi đất thì thuộc về đất và nói chuyện thuộc về đất. Đấng đến bởi trời [thì ở trên tất cả]; 32 điều Người đã thấy và đã nghe, Người làm chứng về điều ấy, và lời chứng của Người chẳng ai đón nhận. 33 Ai đón nhận lời chứng của Người thì xác nhận rằng: Thiên Chúa thì chân thật. 34 Vì Đấng Thiên Chúa sai đi, thì nói những lời của Thiên Chúa, vì Người ban Thần Khí vô ngần vô hạn. 35 Cha yêu mến Con và đã ban mọi sự trong tay Người. 36 Ai tin vào Con thì có sự sống đời đời; còn ai không vâng phục Con thì sẽ không thấy sự sống, nhưng sự thịnh nộ của Thiên Chúa ở lại trên kẻ ấy.”
 
IV. Đức Giê-su nhắc lại lời chứng của Gio-an (5,33)
 
Trong diễn từ trước những kẻ chống đối ở Ga 5,19-47 Đức Giê-su nói đến các lời chứng trong đoạn văn 5,31-39. Trong đó Đức Giê-su nhắc lại lời chứng của Gio-an Tẩy Giả ở ch. 1 và ch. 3. Đức Giê-su nói về Gio-an với những người Do Thái ở 5,33-36: “33 Chính các ông đã cử người đến với Gio-an, và ông ấy đã làm chứng cho sự thật. 34 Phần Tôi, Tôi không nhận lời chứng do người phàm, nhưng Tôi nói những điều này để chính các ông được cứu. 35 Ông ấy là ngọn đèn được thắp lên và toả sáng, chính các ông đã muốn hoan hỷ một thời gian trong ánh sáng của ông ấy. 36 Nhưng Tôi, Tôi có lời chứng lớn hơn lời chứng của Gio-an, đó là những việc mà Cha đã ban cho Tôi để Tôi hoàn thành chúng. Chính những việc Tôi làm, làm chứng về Tôi rằng: Cha đã sai Tôi.”
 
Ở 5,33, Đức Giê-su nói Gio-an “đã làm chứng cho sự thật”. Đó là “sự thật về Đức Giê-su” và “sự thật là Đức Giê-su” như Người đã nói với Tô-ma ở 14,6: “Chính Thầy là con đường và là sự thật và sự sống; không ai đến được với Cha mà không qua Thầy.” Hơn nữa sứ vụ của Đức Giê-su không khác gì hơn là “làm chứng cho sự thật”. Người nói với Phi-la-tô ở 18,37: “Chính ngài nói rằng Tôi là Vua. Vì điều này Tôi đã sinh ra, và vì điều này Tôi đã đến thế gian để làm chứng cho sự thật, bất cứ ai thuộc về sự thật thì nghe tiếng Tôi.” Như thế, khi nói Gio-an “đã làm chứng cho sự thật” (5,33), Đức Giê-su vừa đề cao lời chứng của Gio-an vừa nói về lời chứng vượt trên lời chứng của Gio-an. Đó là những việc mà Chúa Cha đã ban cho Đức Giê-su để Người thực hiện trong sứ vụ của Người. Những việc này làm chứng rằng Chúa Cha đã sai Đức Giê-su đến thế gian (5,36) để cứu thế gian (3,16).  Trong đoạn văn nói về các lời chứng: 5,31-39, Đức Giê-su còn nói về lời chứng của chính Người, lời chứng của Chúa Cha và lời chứng của Kinh Thánh. Những lời chứng này sẽ được phân tích trong bài viết khác.
 
V. Kết luận
 
Lời chứng của Gio-an Tẩy Giả về mình và về Đức Giê-su là một trong những đề tài quan trọng của Tin Mừng Gio-an. Về số lần xuất hiện đề tài này trong Tin Mừng, “lời chứng”  của Gio-an (danh từ “marturia”) xuất hiện 2 lần (1,7.19) và hành động “làm chứng” của Gio-an (động từ “martureô”) xuất hiện 7 lần (1,7.8.15.32.34; 3,26; 5,33). Số lần này đứng thứ hai, so với đề tài làm chứng của Đức Giê-su (6 lần danh từ “marturia” ở 3,11.32.33; 5,31; 8,13.14 và 10 lần động từ “martureô” ở 3,11.32; 4,44 ; 5,31; 7,7; 8,13.14.18a; 13,21; 18,37). Lời chứng của Gio-an có uy tín và đáng tin cậy, bởi vì Gio-an dựa vào uy thế của Đấng sai mình đến làm chứng là Thiên Chúa. Thật vậy, Thiên Chúa đã sai Gio-an đến làm chứng về ánh sáng (1,6) là chính Đức Giê-su (8,12; 9,5). Điểm độc đáo trong lời chứng của Gio-an là ông làm chứng về mình trước khi làm chứng về Đức Giê-su. Đề tài lời chứng của Gio-an có thể tóm tắt trong hai mục sau: (A) Gio-an làm chứng về chính mình và (B) Gio-an làm chứng về Đức Giê-su:
 
(A) Gio-an Tẩy Giả làm chứng về mình:
1. Gio-an không phải là Đấng Ki-tô (1,20).
2. Ông không phải là Ê-li-a (1,21a).
3. Ông không phải là vị ngôn sứ (1,21).
4. Ông là “tiếng kêu trong hoang mạc” (1,23a).
5. Ông “làm cho thẳng con đường của Chúa” (1,23b).
6. Ông làm phép rửa trong nước (1,26.31.33a).
 
(B) Gio-an làm chứng về Đức Giê-su:
1. Gio-an làm chứng về ánh sáng (1,7.8).
2. Ông làm chứng là Đức Giê-su đến sau ông, nhưng vượt trước ông, vì Đức Giê-su có trước ông (1,15 // 1,27.30).
3. Ông làm chứng Đức Giê-su là Chiên của Thiên Chúa (1,29.36).
4. Ông làm chứng Đức Giê-su là Đấng xoá bỏ tội thế gian (1,29).
5. Ông làm chứng Thần Khí tựa chim bồ câu từ trời ngự xuống và ở lại trên Đức Giê-su (1,32).
6. Ông làm chứng Đức Giê-su làm phép rửa trong Thánh Thần (1,33).
7. Ông làm chứng Đức Giê-su là Con Thiên Chúa (1,34).
8. Ông làm chứng về nguồn gốc và sứ vụ của Đức Giê-su trong đoạn văn 3,31-36.
 
Nội dung lời chứng của Gio-an là mặc khải quan trọng về nguồn gốc và căn tính của Đức Giê-su. Nhờ đó độc giả biết Đức Giê-su là ai, Người từ đâu đến và sứ vụ của Người là gì, trước khi gặp gỡ Đức Giê-su và nghe Người nói về lời chứng của chính Người. Tin Mừng Gio-an đặc biệt nhấn mạnh “lời chứng của Đức Giê-su” và “lời chứng của Chúa Cha”, đồng thời đề cao “lời chứng của người môn đệ Đức Giê-su yêu mến”, những lời chứng này sẽ được phân tích trong các bài viết khác./.
 
 
Ghi chú: Tác giả chịu trách nhiệm nội dung bài viết, vì thế, xin các trang web đăng lại cho hiển thị ngày tháng, nguồn bài viết và đừng chỉnh sửa hay cắt bớt nội dung. Cảm ơn.

Copyright © 2011 Cursillo Online. All rights reserved.